UDANA 1
………………….
Ud 1:10 Bāhiya (Kinh Bāhiya) Kinh Phật Tự Thuyết 1;10
Nhà tu khổ hạnh Bāhiya trở thành
Arahant sau khi nghe được một bài giảng ngắn về việc không suy tưởng thêm khi giác
quan bắt cảnh.
Tôi nghe như vầy: có một lần Đức
Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika.
Và vào dịp đó, nhà tu khổ hạnh mặc áo vỏ cây Bāhiya đang sống ở Suppāraka bên bờ
biển. Ông được thờ phụng, tôn vinh, kính trọng, tôn thờ và được dâng lễ vật, được
nhận y phục, thức ăn cúng dường, chỗ ở và thuốc men khi có bệnh. Rồi khi ông ở
một mình trong nơi ẩn dật, dòng suy nghĩ này hiện lên trong tâm trí ông: “Bây
giờ, trong số những người trên thế giới này là Arahant hoặc đã bước vào con đường
Arahant, tôi có phải là một trong số họ không?”
Một vị thiên, vốn là họ hàng ruột
thịt của Bāhiya mặc áo vỏ cây, vì lòng từ bi, mong muốn mang lại lợi lạc cho
ông, cô biết được dòng suy nghĩ đã nảy sinh trong tâm trí ông nên đến gặp. Khi
đến nơi cô đã nói với ông: “Này Bāhiya, ông không phải là một vị Arahant, cũng
chưa bước vào con đường Arahant. Ông thậm chí còn chưa thực hành một pháp nào để
trở thành một vị Arahant hay bước vào con đường Arahant.”
“Vậy thì, trong thế giới loài người và chư
thiên này, ai là Arahant hay đã bước vào con đường Arahant?”
“Này Bāhiya, có một thành phố ở phương Bắc tên
là Sāvatthī. Ở đó, Đức Phật, một vị Arahant đã giác ngộ chân chính đang sống.
Ngài thực sự là một vị Arahant và giảng dạy Pháp dẫn đến quả vị Arahant.”
Rồi Bāhiya khi được vị thiên chỉ
dẫn, lập tức rời Suppāraka và chỉ trong một đêm, (1) đi đến nơi Đức Phật đang ở
gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Lúc
đó, có rất nhiều vị Tỳ kheo đang đi thiền hành ngoài trời. Ông đến gặp họ và
khi đến nơi, thưa rằng: “Thưa các vị tôn kính, Đức Phật, bậc Arahant, người đã
giác ngộ chân chính, hiện đang ở đâu? Chúng con muốn được gặp Đức Phật, bậc
Arahant, người đã giác ngộ chân chính.”
“Đức Phật đã vào thành để khất thực.”
Bāhiya vội vã rời khỏi khu rừng
Jeta và đi vào Sāvatthī, thấy Đức Phật đang khất thực ở Sāvatthī , vẻ mặt thanh
thản và tự tại, định tĩnh, các giác quan bình an, tâm bình an, đạt được sự tĩnh
lặng và cân bằng tối thượng, được thuần hóa, được bảo vệ, giác quan được kiềm
chế, một bậc Đại Long (nāga). Thấy Ngài, ông tiến đến gần Đức Phật, và khi đến
nơi, ông phủ phục sát đất, đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật, và nói: “Xin Đức Phật
dạy cho con Chánh pháp! Xin Đức Phật dạy cho con Chánh pháp, chánh pháp sẽ mang
lại hạnh phúc và an lạc lâu dài cho con.”
Nghe vậy, Đức Phật nói với ông:
“Đây không phải lúc, Bāhiya. Chúng ta đang vào thành để khất thực.”
Lần thứ hai, Bāhiya nói với Đức
Phật: “Thật khó mà biết chắc được những nguy hiểm nào có thể đe dọa đến tính mạng
của Đức Phật hay tính mạng của con. Xin Đức Phật dạy con Chánh Pháp! Xin Đức Phật
dạy con Chánh Pháp để mang lại hạnh phúc và an lạc lâu dài cho con.”
Lần thứ hai, Đức Phật nói với
ông: “Đây không phải lúc, Bāhiya. Chúng ta đang vào thành để khất thực.”
Lần thứ ba, Bāhiya nói với Đức Phật:
“Nhưng khó mà biết chắc được những nguy hiểm nào có thể đe dọa đến tính mạng của
Đức Phật hay tính mạng của con. Xin Đức Phật dạy con Chánh Pháp! Xin Đức Phật dạy
con Chánh Pháp để mang lại hạnh phúc và an lạc lâu dài cho con.”
“Vậy thì, Bāhiya, con nên rèn luyện bản thân
như thế này: Đối với cái thấy thì chỉ có cái thấy. Đối với cái nghe thì chỉ có
cái nghe. Đối với cái cảm nhận thì chỉ có cái cảm nhận. Đối với cái nhận biết
thì chỉ có cái nhận biết. Đó là cách con nên rèn luyện bản thân. Khi đối với con
cái thấy chỉ là cái thấy, cái nghe chỉ là cái nghe, cái cảm nhận chỉ là cái cảm
nhận, cái nhận biết chỉ là cái nhận biết, thì này Bāhiya, không có cái tôi nào
của con liên quan đến điều đó. Khi không có cái tôi nào của con liên quan đến
điều đó, thì không có con ở đó. Khi không có con ở đó, không ở đây, cũng không ở
đằng kia, cũng không ở giữa hai nơi. Điều này, chính điều này là chấm dứt khổ
đau.”2
Nghe Đức Phật giảng giải ngắn gọn
về Chánh Pháp, tâm của Bāhiya mặc áo vỏ cây lập tức được giải thoát khỏi phiền
não nhờ không còn nắm giữ, bám chấp. Sau khi giảng giải ngắn gọn về Chánh Pháp
cho Bāhiya mặc áo vỏ cây, Đức Phật rời đi.
Không lâu sau khi Đức Phật đi, Bāhiya
bị một con bò mẹ có con nhỏ tấn công và giết chết. Đức Phật đi khất thực ở
Sāvatthī, sau khi ăn xong, trở về cùng một số đông các Tỳ kheo, thấy Bāhiya đã
chết. Thấy vậy, Ngài nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, hãy khiêng thi hài vị
này đặt lên kiệu và mang đi hỏa táng, rồi xây bảo tháp cho vị ấy. Người bạn đồng
hành của các con trong đời sống thánh thiện đã viên tịch.”
Các thầy đáp lại: “Vâng, chúng
con làm như ngài nói, thưa Đức Phật”. Họ đặt thi hài Bāhiya lên kiệu, khiêng
đi, hỏa táng và xây bảo tháp cho ông rồi đến gặp Đức Phật. Khi đến nơi, sau khi
đảnh lễ Ngài, họ ngồi sang một bên. Họ thưa với Ngài, “Thưa Đức Phật, thi hài
Bāhiya đã được hỏa táng và bảo tháp của ông đã được xây dựng. Vị ấy tái sinh về
đâu? Kiếp sau của vị ấy là gì?”
“Này các Tỳ kheo, Bāhiya mặc áo vỏ cây là người
thông thái. Ông ấy tu tập Chánh Pháp theo đúng Chánh Pháp và không làm phiền ta
về những vấn đề liên quan đến Chánh Pháp. Này các Tỳ kheo, Bāhiya mặc áo vỏ cây
đã giải thoát, hoàn toàn không còn bị ràng buộc gì nữa.”
Rồi nhân dịp này, Đức Phật liền
thốt lên: Nơi nào nước, đất, lửa và gió không có chỗ đứng: Ở đó các vì sao
không chiếu sáng, mặt trời không nhìn thấy. Ở đó mặt trăng không xuất hiện. Ở
đó không có bóng tối. Và khi một bậc hiền triết, một Bà la môn nhờ trí tuệ, đã
tự mình nhận ra điều này, thì người đó được giải thoát khỏi cõi Sắc và Vô Sắc,
khỏi hạnh phúc và khổ đau. Vị ấy được tự do.
Ghi chú
1. Eka-ratti-parivāsena: Cụm từ
này cũng có thể có nghĩa là “lưu trú một đêm” (tức là nghỉ ngơi không quá một
đêm ở bất kỳ một địa điểm nào); hoặc “trong khoảng thời gian một đêm”. Bản Chú
giải thiên về nghĩa được sử dụng trong bản dịch, lưu ý rằng khoảng cách giữa
Suppāraka và Sāvatthī là 120 dặm, hoặc xấp xỉ 1.200 dặm. Trong câu chuyện về kể
Bāhiya, Bāhiya hoàn toàn không có thành tựu thiền định nào, vì vậy tốc độ kỳ diệu
của chuyến đi của ông phải được quy cho năng lực của chư thiên hoặc năng lực của
Đức Phật. Tuy nhiên, ông thực sự có thể có sức mạnh do sự tập trung mạnh mẽ
cùng với một số năng lực tâm linh đi kèm của riêng mình.
2. Để thảo luận chi tiết hơn về
những hướng dẫn này, vui lòng xem bài viết “Thức ăn cho sự tỉnh thức: Vai trò của
sự chú ý đúng đắn” (chú ý đúng đắn là chỉ chú ý đến những điều giúp giải thoát).
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_10.html
…………………
Ud 1:9 Kinh Jaṭila | Các nhà tu
khổ hạnh – Kinh Phật Tự Thuyết 1:9
Tâm trí được thanh tẩy và tinh
khiết không phải bằng nghi thức tẩy uế mà bằng chân lý và sự ngay thẳng.
Tôi nghe như vầy: có một lần Đức
Phật ở gần Gayā tại đỉnh núi Gayā. Và vào dịp đó, nhiều nhà tu khổ hạnh , trong
những đêm đông lạnh giá “Giữa những ngày thứ 8 trong tuần trăng khuyết của mùa
lạnh”,¹ khi tuyết rơi ở Gayā, đã nhảy lên nhảy xuống trong nước, đổ nước lên
người, và thực hiện lễ tế lửa, (nghĩ rằng,) “Nhờ đó mà có sự thanh tịnh.”
Đức Phật thấy họ làm như vậy đã
thốt lên: Không phải bằng nước mà người ta được thanh tịnh, dù ở đây có nhiều
người tắm. Ai sống trong chân lý và ngay thẳng: Người đó là người thanh tịnh;
người đó là một Bà la môn.2
Ghi chú
1. “Những ngày thứ tám trong tuần
trăng khuyết của mùa lạnh” là 3 ngày 23 Âm lịch trong 3 tháng mùa lạnh. Đây là
những ngày diễn ra các nghi lễ Bà la môn để tạo công đức cho người đã khuất.
Khoảng thời gian giữa ngày 23 âm lịch đầu tiên và ngày 23 âm lịch cuối cùng của
mùa lạnh được coi là thời điểm lạnh nhất trong năm ở miền bắc Ấn Độ. Xem AN
3:35.
2. Nửa sau của câu này giống hệt
với nửa sau của Kinh Pháp Cú Dhp 393.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_9.html
…………………………
Jan 07, 2026
Ud 1:8 Kinh Saṅgāmaji | Saṅgāmaji
– Kinh Phật Tự Thuyết 1:8
Vợ cũ của một vị Tỳ Kheo cố gắng
dùng con mình để dụ dỗ vị ấy quay trở lại đời sống cư sĩ.
Tôi nghe như vầy: có một lần Đức
Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika.
Và nhân dịp đó, Tôn giả Saṅgāmaji đã đến Sāvatthī để gặp Đức Phật. Vợ cũ của
ông nghe rằng: “Người ta nói thầy Saṅgāmaji đã đến Sāvatthī.” Mang theo đứa con
nhỏ của mình, bà đến khu rừng Jeta. Lúc đó, Tôn giả Saṅgāmaji đang ngồi (thiền)
dưới gốc cây cả ngày. Vợ cũ đến gặp thầy và khi đến nơi, bà nói:
“Vị tu sĩ, hãy chăm sóc tôi và đứa con trai nhỏ.”
Nghe vậy, Tôn giả Saṅgāmaji im lặng. Lần thứ hai, lần thứ ba, vợ cũ của ông lại
nói với ông: “Vị tu sĩ, hãy chăm sóc tôi và đứa con trai nhỏ.” Lần thứ ba, Tôn
giả Saṅgāmaji vẫn im lặng.
Rồi vợ cũ bế đứa bé đặt trước mặt
Tôn giả Saṅgāmaji, bỏ đi và nói: “Vị tu sĩ, đó là con trai của ông. Hãy chăm
sóc nó.”
Lúc đó, Tôn giả Saṅgāmaji không
nhìn đứa trẻ cũng không nói chuyện với nó. Vợ ông, sau khi đi được một đoạn,
quay lại thấy Tôn giả Saṅgāmaji không nhìn đứa trẻ cũng không nói chuyện với
nó. Thấy vậy, bà nghĩ: “Vị tu sĩ này thậm chí còn không quan tâm đến con trai
mình.” Bà quay lại và bế đứa trẻ đi.
Đức Phật – với con mắt thần
thông, thanh tịnh và vượt trội hơn con người – đã thấy vợ cũ của Tôn giả Saṅgāmaji
cư xử như vậy.
Rồi khi thấy như vậy, Đức Phật đã
thốt lên: Khi bà ta đến, vị ấy không vui; khi bà ta đi, vị ấy không buồn. Một
người chiến thắng trong trận chiến, được giải thoát khỏi xiềng xích: (1) Vị ấy
là người mà ta gọi là Bà la môn.
Ghi chú
1. Câu này là một lối chơi chữ
kép dựa trên tên của Saṅgāmaji. Theo nghĩa đen, tên này có nghĩa là người chiến
thắng trong trận chiến – một từ ghép của saṅgāma (trận chiến) và -ji (người chiến
thắng) – nhưng Đức Phật cũng rút ra từ thành phần đầu tiên của từ ghép là từ saṅgā,
có nghĩa là “thoát khỏi xiềng xích”. Nói đúng ra, saṅgāma và saṅgā không liên
quan đến nhau. Khả năng chơi chữ bằng cách sử dụng những từ không liên quan như
vậy được coi là dấu hiệu của trí thông minh và sự hóm hỉnh.
Xem thêm: Kinh Pháp Cú Dhp
345—346
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_8.html
…………………..
Ud 1:7 Kinh Aja | Aja – Kinh Phật
Tự Thuyết 1:7
Bậc Giác Ngộ thì không còn sợ hãi.
Tôi nghe như vầy, có một lần Đức
Phật ở gần Pāva tại điện thờ Ajakalāpaka [Đàn Dê], nơi ở của yêu tinh Ajakalāpaka.
Và vào dịp đó, trong bóng tối mịt mù của đêm, Đức Phật ngồi ngoài trời và mưa
rơi lác đác.
Rồi yêu tinh Ajakalāpaka muốn gây
ra nỗi sợ hãi, kinh hoàng và rùng mình cho Đức Phật, đã đến gần Ngài. Khi cách Ngài
không xa, đã ba lần gây náo động và hỗn loạn: “Náo động và hỗn loạn! Náo động
và hỗn loạn! Náo động và hỗn loạn! Ta là yêu tinh đây, hỡi vị nhà tu!”
Sau khi nhận ra điều đó, Đức Phật
đã thốt lên: Phẩm chất của một vị Bà la môn là người đã vượt lên trên tất cả
các Pháp (1), thì người ấy vượt lên trên con yêu tinh này và sự hỗn loạn của
nó.
Ghi chú
1. Vượt lên trên các Pháp. Điều
này rõ ràng là đề cập đến phẩm chất tâm thiện và ác – kinh này đứng về phía các
đoạn trong Kinh điển cho rằng sự giải thoát không phải là một pháp, mà là sự vượt
lên trên tất cả các pháp. (Nhìn chung, các kinh điển không nhất quán về điểm
này. Kinh Iti 90, cùng với một số kinh khác, nêu rõ rằng sự giải thoát được coi
là một pháp. Mặt khác, kinh AN 10:58 lại gọi sự giải thoát là sự chấm dứt của tất
cả các pháp. Kinh Sn 5:6 gọi việc đạt được mục tiêu là sự siêu thoát khỏi tất cả
các pháp, cũng như kinh Sn 4:6 và Sn 4:10 nói rằng vị Arahant đã siêu thoát khỏi
vô dục, được cho là pháp tối cao. Kinh MN 22, trong ví dụ nổi tiếng về chiếc
bè, nói rằng tất cả các pháp đều bị từ bỏ ở cuối con đường.)
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_7.html
……………….
Ud 1:6 Mahā Kassapa (Kinh
Kassapa) – Kinh Phật Tự Thuyết
Tôn giả Mahā Kassapa chọn đi khất
thực nơi người nghèo hơn là giữa chư thiên.
Tôi nghe như vầy, có một lần Đức
Phật ở gần Rājagaha tại Rừng Trúc, nơi nuôi dưỡng những con sóc. Vào dịp đó,
Tôn giả Mahā Kassapa ở tại Hang Pipphali, bị đau bệnh và ốm nặng. Sau đó, ngài
khỏi bệnh. Khi đã khỏi bệnh, ngài nghĩ: “Hay là ta vào Rājagaha để khất thực?”
Vào dịp đó, 500 vị thiên đang rất
mong muốn có cơ hội đặt bát đến Tôn giả Mahā Kassapa. Nhưng Tôn giả Kassapa từ
chối 500 vị thiên ấy. Sáng sớm ngài chỉnh lại y nội (1) và mang theo bát khất thực cùng y áo đi vào
Rājagaha khất thực dọc theo các con phố của người nghèo, người túng thiếu, người
thợ dệt. Đức Phật thấy Đại đức Kassapa đi vào Rājagaha khất thực dọc theo các
con phố của người nghèo, người túng thiếu, người thợ dệt.
Khi thấy như vậy, Đức Phật đã thốt
lên: Không nương náu ai khác, vô danh, (2) thuần thành, an trú trong điều cốt lõi,
ô uế chấm dứt, giận dữ không còn: Người ấy được Ta gọi là một Bà la môn.
Ghi chú
1. Theo các quy tắc được nêu
trong Cv.VIII, một vị Tỳ kheo rời khỏi tu viện ở vùng hoang vu để đi khất thực
sẽ chỉ mặc y nội, còn y thượng và y ngoài thì gấp gọn trên vai hoặc lưng. Khi đến
gần khu dân cư, vị ấy sẽ dừng lại và chỉnh cho y nội được chỉnh tề: che phủ phần
từ trên rốn đến dưới đầu gối, và buông xuống đều phía trước và phía sau. Sau
đó, vị ấy sẽ đắp y thượng và y ngoài, sao cho y thượng làm lớp lót cho y ngoài.
Nếu vị ấy đi dép, thì sẽ cởi ra và đặt chúng vào một chiếc túi vải nhỏ. Làm
xong rồi thì vị ấy mới vào khu dân cư để khất thực.
2. Có một lối chơi chữ lặp âm ở
đây giữa anañña (không có ai khác) và aññāta (vô danh).
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_6.html
…………………
Ud 1:5 Bà La Môn (Kinh Bà La Môn)
– Kinh Phật Thuyết Như Vậy 1:5
Đức Phật định nghĩa lại thuật ngữ
“Bà La Môn” có nghĩa là bất kỳ ai đã giác ngộ, bất kể xuất thân.
Tôi nghe như vầy, có một lần Đức
Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tại tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika.
Nhân dịp đó, Tỳ kheo Sāriputta, Tỳ kheo Mahā Moggalāna, Tỳ kheo Mahā Kassapa, Tỳ
kheo Mahā Kaccāna, Tỳ kheo Mahā Koṭṭhita, Tỳ kheo Mahā Kappina, Tỳ kheo Mahā
Cunda, Tỳ kheo Anuruddha, Tỳ kheo Revata và Tỳ kheo Nanda (1) đã đến gặp Đức Phật.
Đức Phật thấy họ đến từ xa, Ngài nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các Bà
La Môn đang đến. Này các Tỳ kheo, các Bà La Môn đang đến.”
Khi điều này được nói ra, một vị Tỳ
Kheo, vốn xuất thân từ dòng dõi Bà La Môn, đã hỏi Đức Phật: “Thưa Đức Phật, một
người như thế nào thì được gọi là Bà la môn? Và những phẩm chất nào làm cho một người trở
thành Bà La Môn?”
Khi nhận được câu hỏi, Đức Phật
đã nói:
Sau khi loại bỏ những tính chất xấu
xa,(2) những người luôn luôn chánh niệm, đã giác ngộ, xiềng xích của họ đã chấm
dứt: Trong thế gian này, họ thực sự là Bà La Môn.
Ghi chú
1. Đoạn kinh văn này dịch này
theo bản tiếng Thái và tiếng Miến Điện. Bản tiếng Sri Lanka thay thế Ven. Nanda
trong danh sách này bằng Ven. Ānanda; bản tiếng Bồ Đào Nha (PTS) ghi là Ven. Devadatta
và Ven. Ānanda. Hai cách đọc sau có vẻ sai, vì Đức Phật trong kinh này định
nghĩa “Bà La Môn” là người có xiềng xích đã chấm dứt – tức là một vị Arahant –
trong khi Ven. Ānanda chỉ trở thành Arahant sau khi Đức Phật viên tịch; Ven. Devadatta,
sau khi gây chia rẽ trong Tăng đoàn vào cuối đời Đức Phật, đã bị đày xuống địa
ngục.
2. Câu này chứa một lối chơi chữ
dựa trên các từ brāhmaṇa và bāhita (bị đày ải) – cùng một lối chơi chữ được sử
dụng trong Kinh Pháp Cú Dhp 388 và Ud 1:4.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_5.html
………………….
Ud 1:4 - Kinh Huhuṅka - Tính kiêu
căng hống hách - Kinh Phật Tự Thuyết 1:4
Một người thực sự xuất sắc không
phô trương sự kiêu ngạo.
Tôi nghe như vầy, có một lần Đức
Phật ở tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Bồ đề – cây giác ngộ – Ngài
vừa mới giác ngộ. Và vào dịp đó, Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ đề trong bảy ngày
liên tục, cảm nhận được niềm an lạc hạnh phúc của sự giải thoát. Sau bảy ngày,
Ngài ra khỏi trạng thái thiền định đó.
Rồi có một vị Bà la môn kiêu căng
hống hách đến gặp Đức Phật. Khi đến nơi, ông chào hỏi lịch sự đến Đức Phật. Sau
đó , ông ta đứng sang một bên và nói với Đức Phật: “Thưa Đức Phật Gotama, một
người như thế nào thì được gọi là Bà la môn? Và những phẩm chất nào làm nên một
người Bà la môn?”
Khi nhận được câu hỏi đó, Đức Phật
đã nói:
Bất kỳ vị Bà La Môn nào đã loại bỏ
những tính chất xấu xa,(1) –không kiêu căng hống hách, không ô uế, tâm trí được
kiểm soát– đã đạt đến đỉnh cao của trí tuệ,(2) đời sống thánh thiện đã hoàn thiện
(3). Vị Bà La Môn đó sẽ nói đúng giáo lý thánh thiện. Vị ấy không kiêu căng hống
hách (4) ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
Ghi chú
1. Câu này chứa một lối chơi chữ
với các từ brāhmaṇa và bāhita (bị loại bỏ) – cùng một lối chơi chữ được sử dụng
trong Kinh Pháp Cú Dhp 388 và Ud 1:5.
2. Câu này chơi chữ với thuật ngữ
vedanta, có thể có nghĩa là “đỉnh cao của trí tuệ”, “đỉnh cao của kinh Veda”,
hoặc “phần bổ sung cho kinh Veda”. Trong hai ý nghĩa sau, đó sẽ là một thuật ngữ
đề cập đến một vị là Bà La Môn (brahman-by-birth sinh ra từ dòng dõi Bà La Môn)
thì có nhiệm vụ nghiên cứu tất cả kinh Veda và phần bổ sung của chúng, nhưng rõ
ràng Đức Phật đang gán cho thuật ngữ này một ý nghĩa khác ở đây như lời giảng ở
trên.
3. Ở đây và hai dòng bên dưới, từ
brahma có nghĩa là bậc “Thánh”.
4. Xem Sn 4:10 và Sn 4:14.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_4.html
……………………..
Ud 1:3 Giác Ngộ (3) (Kinh Bồ Đề)
Đức Phật, ngay sau khi giác ngộ,
quán chiếu các duyên/điều kiện và Lý Duyên Khởi.
Tôi nghe như vầy, có một lần, Đức
Phật ở tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Bồ Đề – cây giác ngộ – Ngài
vừa mới giác ngộ. Trong dịp đó, Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề suốt bảy ngày liền,
cảm nhận được niềm an lạc hạnh phúc của giải thoát. Rồi, sau bảy ngày trôi qua,
khi ra khỏi thiền định, vào canh ba của đêm, Ngài chú tâm quán chiếu duyên khởi
theo chiều thuận và nghịch như sau:
Khi cái này có, thì cái kia có. Từ sự phát sinh của cái này mà có sự
phát sinh của cái kia. Khi cái này không có, thì cái kia không có. Từ sự chấm dứt
của cái này mà có sự chấm dứt của cái kia. Nói cách khác:
Từ vô minh là điều kiện cần thiết mà có sự tạo tác.
Từ sự tạo tác là điều kiện cần thiết mà có thức.
Từ thức như một điều kiện cần thiết mà có danh và sắc.
Từ danh và sắc như một điều kiện cần thiết mà sinh ra sáu giác quan.
Từ sáu giác quan như một điều kiện cần thiết mà sinh ra sự tiếp xúc
Từ tiếp xúc như một điều kiện cần thiết mà sinh ra cảm thọ.
Từ cảm thọ như một điều kiện cần thiết mà sinh ra tham ái.
Từ tham ái như một điều kiện cần thiết mà sinh ra chấp trước/sự bám
víu.
Từ chấp trước/sự bám víu như một điều kiện cần thiết mà sinh ra cõi tái
sinh tương ứng.
Từ cõi tái sinh tương ứng như một điều kiện cần thiết mà có sự sinh ra.
Từ sự sinh ra như một điều kiện cần
thiết, mà có già và chết, khổ đau, than khóc, đau đớn, phiền não và tuyệt vọng
xuất hiện. Đó là nguồn gốc của toàn bộ khối khổ đau và phiền não này.
Giờ đây, từ sự tan biến và chấm dứt không còn dư sót của vô minh mà sinh
ra sự chấm dứt của tạo tác.
Từ sự chấm dứt của tạo tác mà sinh ra sự chấm dứt của ý thức.
Từ sự chấm dứt của ý thức mà sinh ra sự chấm dứt của danh và sắc.
Từ sự chấm dứt của danh và sắc mà sinh ra sự chấm dứt của sáu giác
quan.
Từ sự chấm dứt của sáu giác quan dẫn đến sự chấm dứt của tiếp xúc.
Từ sự chấm dứt của tiếp xúc dẫn đến sự chấm dứt của cảm thọ.
Từ sự chấm dứt của cảm thọ dẫn đến sự chấm dứt của tham ái.
Từ sự chấm dứt của tham ái dẫn đến sự chấm dứt của chấp trước/sự bám
víu.
Từ sự chấm dứt của chấp trước/sự bám víu dẫn đến sự chấm dứt của cõi
tái sinh tương ứng.
Từ sự chấm dứt của cõi tái sinh tương ứng dẫn đến sự chấm dứt của sự
sinh ra.
Từ sự chấm dứt của sự sinh ra, thì già và chết, đau khổ, than khóc, đau
đớn, phiền não và tuyệt vọng đều chấm dứt. Đó là sự chấm dứt của toàn bộ khối
khổ đau và phiền não này.
Rồi khi nhận ra ý nghĩa của điều
đó, Đức Phật đã thốt lên:
Khi các hiện tượng, sự việc trở
nên rõ ràng đối với vị Bà la môn nhiệt thành, sống trong thiền định, Ngài đứng
lên, đánh tan đội quân của Ma-ra, như mặt trời chiếu sáng bầu trời.(1)
Ghi chú
1. Câu thơ này là một ví dụ về
“ngọn đèn” – một hình thức thơ ca trong đó một từ, chẳng hạn như tính từ hoặc động
từ, có chức năng trong hai hoặc nhiều mệnh đề hoặc câu khác nhau. Tên gọi của
hình tượng này xuất phát từ hình ảnh các mệnh đề hoặc câu khác nhau “tỏa ra” từ
một từ duy nhất. Trong trường hợp này, từ chỉ ngọn đèn là “đứng”. Để biết thêm
các ví dụ về đèn, xem Ud 5:3 và Ud 8:9.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_3.html
……………………….
Jan 06, 2026
Ud 1:2 Giác Ngộ (2) (Kinh Bồ Đề)
Tôi nghe như vầy, có một lần, Đức
Phật ở tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Bồ Đề – cây giác ngộ –
Ngài vừa mới giác ngộ. Và vào dịp đó, Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề suốt bảy
ngày liền, cảm nhận được niềm hạnh phúc an lạc của giải thoát. Rồi, sau bảy
ngày, khi ra khỏi trạng thái thiền định đó, vào canh hai của đêm, Ngài suy nghĩ
đến duyên khởi theo chiều ngược lại,(1) như sau:
Khi cái này không có, thì cái kia
không có.
Khi cái này diệt thì cái kia diệt.
Nói cách khác: Do sự chấm dứt của vô minh mà có sự chấm dứt của các sự tạo tác.
Từ sự chấm dứt của sự tạo tác mà dẫn
đến sự chấm dứt của thức.
Từ sự chấm dứt của thức mà dẫn đến
sự chấm dứt của danh sắc.
Từ sự chấm dứt của danh sắc mà dẫn
đến sự chấm dứt của sáu giác quan.
Từ sự chấm dứt của sáu giác quan
mà dẫn đến sự chấm dứt của xúc.
Từ sự chấm dứt của xúc mà dẫn đến
sự chấm dứt của cảm thọ.
Từ sự chấm dứt của cảm thọ mà dẫn
đến sự chấm dứt của tham ái.
Từ sự chấm dứt của tham ái mà dẫn
đến sự chấm dứt của bám chấp/duy trì.
Từ sự chấm dứt của bám chấp/duy
trì mà dẫn đến sự chấm dứt của sự tái sinh nơi cõi tương ứng.
Từ sự chấm dứt của sự tái sinh nơi
cõi tương ứng mà dẫn đến sự chấm dứt của việc sinh ra.
Từ sự chấm dứt của việc sinh ra,
thì già - chết, khổ đau, than khóc, đau đớn, phiền não và tuyệt vọng đều chấm dứt.
Đó là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ đau và phiền não này.
Rồi, khi nhận ra ý nghĩa của việc
này, Đức Phật đã thốt lên trong dịp đó:
Khi các hiện tượng trở nên rõ
ràng đối với vị Bà la môn – người thành tâm, sống trong thiền định – mọi nghi
ngờ của vị ấy đều biến mất khi vị ấy thấu hiểu sự chấm dứt của các duyên/điều
kiện cần thiết.
Ghi chú
1. Trong đoạn Kinh văn tương tự ở
Mv.I.1.4, Đức Phật nêu Lý Duyên Khởi theo cả chiều thuận và chiều nghịch.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_2.html
…………………..
Ud 1:1 Kinh Phật Tự Thuyết 1:1 Giác Ngộ (1) (Kinh Bồ Đề)
Tôi nghe như vầy: có một lần, Đức
Phật ở tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Bồ Đề – cây giác ngộ – Ngài
vừa mới giác ngộ. Và vào dịp đó, Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề suốt bảy ngày liền,
cảm nhận niềm hạnh phúc an lạc của giải thoát. Rồi, sau bảy ngày, khi ra khỏi
trạng thái thiền định đó, vào canh đầu tiên của đêm, Ngài suy nghĩ về Lý Duyên Khởi
theo chiều thuận,(1) như sau:
Khi cái này có, thì cái kia có. Từ
sự phát sinh của cái này mà có sự phát sinh của cái kia.
Nói cách khác: Từ vô minh là điều
kiện (duyên) tiên quyết mà có sự tạo tác.
Từ sự tạo tác là điều kiện tiên
quyết mà có thức.
Từ thức là điều kiện tiên quyết
mà có danh và sắc.
Từ danh và sắc là điều kiện tiên
quyết mà có sáu giác quan.
Từ sáu giác quan là điều kiện
tiên quyết mà có sự tiếp xúc.
Từ sự tiếp xúc là một điều kiện cần
thiết mà sinh ra cảm thọ, cảm giác.
Từ cảm thọ là một điều kiện cần
thiết mà sinh ra tham ái.
Từ tham ái là một điều kiện cần
thiết mà sinh ra sự bám chấp/duy trì.(2)
Từ sự bám chấp/duy trì là một điều
kiện cần thiết mà có việc tái sinh về 1 cõi tương ứng(hữu).
Từ việc tái sinh về cõi tương ứng
là một điều kiện cần thiết mà có việc sinh ra.
Từ việc sinh ra như một điều kiện
cần thiết, mới xuất hiện già và chết, khổ đau, than khóc, đau đớn, phiền não và
tuyệt vọng. Đó là nguồn gốc của toàn bộ khối khổ đau và phiền não này.(3)
Rồi, khi nhận ra ý nghĩa của việc
này, Đức Phật đã thốt lên trong dịp đó:
Khi các sự việc trở nên rõ ràng đối
với vị Bà la môn – người nhiệt tâm, sống trong thiền định – mọi nghi ngờ của vị
ấy đều biến mất khi vị ấy biết rõ được sự việc cùng với nguyên nhân của nó.
Ghi chú
1. Trong đoạn văn tương đương
trong Kinh Mv.I.1.2, Đức Phật nêu sự phụ thuộc đồng phát sinh của Duyên Khởi theo
cả chiều thuận và chiều nghịch.
2. Từ ghép này – bám chấp/duy trì
– là dịch từ thuật ngữ Pali upādāna. Upādāna là từ ghép, được sử dụng chỉ cho
hai khía cạnh của một quá trình vật lý được áp dụng một cách ẩn dụ cho tâm trí:
hành động bám chấp, trong đó ngọn lửa được duy trì nhờ nhiên liệu, cùng với sự
nuôi dưỡng do nhiên liệu cung cấp. Nói về tâm, upādāna biểu thị cả hành động
bám chấp và cảnh mà tâm bám chấp vào, cùng nhau nuôi dưỡng cho quá trình hình
thành và các yếu tố đi kèm dẫn đến đau khổ và phiền não. Để biết thêm về hình ảnh
này và ý nghĩa của nó đối với thực hành, xin xem quyển The Mind Like Fire
Unbound (Tâm Như Ngọn Lửa Không Bị Ràng Buộc).
3. Lưu ý rằng Duyên Khởi (nương tựa
nhau để sinh khởi) (paṭicca samuppāda) được diễn đạt bằng các quá trình – của
các sự kiện và hành động – mà không đề cập đến một khuôn khổ chứa đựng các quá
trình đó. Nói cách khác, nó không đề cập đến sự tồn tại hay không tồn tại của
các tác nhân thực hiện hành động, hoặc một khuôn khổ trong thời gian và không
gian nơi các quá trình này diễn ra. Do đó, cho phép hiểu về nguyên nhân của khổ
đau và phiền não mà không cần đề cập đến sự tồn tại hay không tồn tại của một
“tôi” hay một “ai khác” chịu trách nhiệm cho những sự kiện đó.
Thay vào đó, các sự kiện được xem
đơn giản là các sự kiện trong bối cảnh của quá trình – một cách nhìn nhận cho
phép từ bỏ sự bám chấp vào bất kỳ sự kiện nào trong số này, để chấm dứt khổ
đau. Ngay cả ý niệm về một “tôi” hay một “ai khác” cũng được xem đơn giản là một
phần của quá trình (dưới các yếu tố cấu thành và yếu tố phụ là “danh xưng” có
danh và sắc).
Điều này cho phép từ bỏ bất kỳ sự
gắn bó nào với ảo tưởng “Tôi là”, như đã đề cập trong Ud 2:1, 4:1, 6:6 và 7:1.
Bằng cách này, việc xử lý Duyên Khởi (sự
phụ thuộc cùng phát sinh) trong ba udāna đầu tiên, mặc dù ngắn gọn, thực sự tạo
tiền đề giúp ta hiểu một số giáo lý nghe có vẻ nghịch lý hơn xuất hiện sau này
trong tuyển tập. Để thảo luận về Lý Duyên Khởi, xin xem quyển The Shape of
Suffering "Hình dạng của khổ đau". Để thảo luận sâu hơn về vai trò của
nó trong việc hình thành (các sự việc) và từ bỏ suy nghĩ về "Tôi là",
xin xem quyển Skill in Questions "Kỹ năng đặt câu hỏi", chương 3 và
8.
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/
Comments
Post a Comment