UDANA 1

………………….

Ud 1:10 Bāhiya (Kinh Bāhiya)  Kinh Phật Tự Thuyết 1;10

Nhà tu khổ hạnh Bāhiya trở thành Arahant sau khi nghe được một bài giảng ngắn về việc không suy tưởng thêm khi giác quan bắt cảnh.

Tôi nghe như vầy: có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Và vào dịp đó, nhà tu khổ hạnh mặc áo vỏ cây Bāhiya đang sống ở Suppāraka bên bờ biển. Ông được thờ phụng, tôn vinh, kính trọng, tôn thờ và được dâng lễ vật, được nhận y phục, thức ăn cúng dường, chỗ ở và thuốc men khi có bệnh. Rồi khi ông ở một mình trong nơi ẩn dật, dòng suy nghĩ này hiện lên trong tâm trí ông: “Bây giờ, trong số những người trên thế giới này là Arahant hoặc đã bước vào con đường Arahant, tôi có phải là một trong số họ không?”

Một vị thiên, vốn là họ hàng ruột thịt của Bāhiya mặc áo vỏ cây, vì lòng từ bi, mong muốn mang lại lợi lạc cho ông, cô biết được dòng suy nghĩ đã nảy sinh trong tâm trí ông nên đến gặp. Khi đến nơi cô đã nói với ông: “Này Bāhiya, ông không phải là một vị Arahant, cũng chưa bước vào con đường Arahant. Ông thậm chí còn chưa thực hành một pháp nào để trở thành một vị Arahant hay bước vào con đường Arahant.”

 “Vậy thì, trong thế giới loài người và chư thiên này, ai là Arahant hay đã bước vào con đường Arahant?”

 “Này Bāhiya, có một thành phố ở phương Bắc tên là Sāvatthī. Ở đó, Đức Phật, một vị Arahant đã giác ngộ chân chính đang sống. Ngài thực sự là một vị Arahant và giảng dạy Pháp dẫn đến quả vị Arahant.”

Rồi Bāhiya khi được vị thiên chỉ dẫn, lập tức rời Suppāraka và chỉ trong một đêm, (1) đi đến nơi Đức Phật đang ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Lúc đó, có rất nhiều vị Tỳ kheo đang đi thiền hành ngoài trời. Ông đến gặp họ và khi đến nơi, thưa rằng: “Thưa các vị tôn kính, Đức Phật, bậc Arahant, người đã giác ngộ chân chính, hiện đang ở đâu? Chúng con muốn được gặp Đức Phật, bậc Arahant, người đã giác ngộ chân chính.”

“Đức Phật đã vào thành để khất thực.”

Bāhiya vội vã rời khỏi khu rừng Jeta và đi vào Sāvatthī, thấy Đức Phật đang khất thực ở Sāvatthī , vẻ mặt thanh thản và tự tại, định tĩnh, các giác quan bình an, tâm bình an, đạt được sự tĩnh lặng và cân bằng tối thượng, được thuần hóa, được bảo vệ, giác quan được kiềm chế, một bậc Đại Long (nāga). Thấy Ngài, ông tiến đến gần Đức Phật, và khi đến nơi, ông phủ phục sát đất, đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật, và nói: “Xin Đức Phật dạy cho con Chánh pháp! Xin Đức Phật dạy cho con Chánh pháp, chánh pháp sẽ mang lại hạnh phúc và an lạc lâu dài cho con.”

Nghe vậy, Đức Phật nói với ông: “Đây không phải lúc, Bāhiya. Chúng ta đang vào thành để khất thực.”

Lần thứ hai, Bāhiya nói với Đức Phật: “Thật khó mà biết chắc được những nguy hiểm nào có thể đe dọa đến tính mạng của Đức Phật hay tính mạng của con. Xin Đức Phật dạy con Chánh Pháp! Xin Đức Phật dạy con Chánh Pháp để mang lại hạnh phúc và an lạc lâu dài cho con.”

Lần thứ hai, Đức Phật nói với ông: “Đây không phải lúc, Bāhiya. Chúng ta đang vào thành để khất thực.”

Lần thứ ba, Bāhiya nói với Đức Phật: “Nhưng khó mà biết chắc được những nguy hiểm nào có thể đe dọa đến tính mạng của Đức Phật hay tính mạng của con. Xin Đức Phật dạy con Chánh Pháp! Xin Đức Phật dạy con Chánh Pháp để mang lại hạnh phúc và an lạc lâu dài cho con.”

 “Vậy thì, Bāhiya, con nên rèn luyện bản thân như thế này: Đối với cái thấy thì chỉ có cái thấy. Đối với cái nghe thì chỉ có cái nghe. Đối với cái cảm nhận thì chỉ có cái cảm nhận. Đối với cái nhận biết thì chỉ có cái nhận biết. Đó là cách con nên rèn luyện bản thân. Khi đối với con cái thấy chỉ là cái thấy, cái nghe chỉ là cái nghe, cái cảm nhận chỉ là cái cảm nhận, cái nhận biết chỉ là cái nhận biết, thì này Bāhiya, không có cái tôi nào của con liên quan đến điều đó. Khi không có cái tôi nào của con liên quan đến điều đó, thì không có con ở đó. Khi không có con ở đó, không ở đây, cũng không ở đằng kia, cũng không ở giữa hai nơi. Điều này, chính điều này là chấm dứt khổ đau.”2

Nghe Đức Phật giảng giải ngắn gọn về Chánh Pháp, tâm của Bāhiya mặc áo vỏ cây lập tức được giải thoát khỏi phiền não nhờ không còn nắm giữ, bám chấp. Sau khi giảng giải ngắn gọn về Chánh Pháp cho Bāhiya mặc áo vỏ cây, Đức Phật rời đi.

Không lâu sau khi Đức Phật đi, Bāhiya bị một con bò mẹ có con nhỏ tấn công và giết chết. Đức Phật đi khất thực ở Sāvatthī, sau khi ăn xong, trở về cùng một số đông các Tỳ kheo, thấy Bāhiya đã chết. Thấy vậy, Ngài nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, hãy khiêng thi hài vị này đặt lên kiệu và mang đi hỏa táng, rồi xây bảo tháp cho vị ấy. Người bạn đồng hành của các con trong đời sống thánh thiện đã viên tịch.”

Các thầy đáp lại: “Vâng, chúng con làm như ngài nói, thưa Đức Phật”. Họ đặt thi hài Bāhiya lên kiệu, khiêng đi, hỏa táng và xây bảo tháp cho ông rồi đến gặp Đức Phật. Khi đến nơi, sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi sang một bên. Họ thưa với Ngài, “Thưa Đức Phật, thi hài Bāhiya đã được hỏa táng và bảo tháp của ông đã được xây dựng. Vị ấy tái sinh về đâu? Kiếp sau của vị ấy là gì?”

 “Này các Tỳ kheo, Bāhiya mặc áo vỏ cây là người thông thái. Ông ấy tu tập Chánh Pháp theo đúng Chánh Pháp và không làm phiền ta về những vấn đề liên quan đến Chánh Pháp. Này các Tỳ kheo, Bāhiya mặc áo vỏ cây đã giải thoát, hoàn toàn không còn bị ràng buộc gì nữa.”

Rồi nhân dịp này, Đức Phật liền thốt lên: Nơi nào nước, đất, lửa và gió không có chỗ đứng: Ở đó các vì sao không chiếu sáng, mặt trời không nhìn thấy. Ở đó mặt trăng không xuất hiện. Ở đó không có bóng tối. Và khi một bậc hiền triết, một Bà la môn nhờ trí tuệ, đã tự mình nhận ra điều này, thì người đó được giải thoát khỏi cõi Sắc và Vô Sắc, khỏi hạnh phúc và khổ đau. Vị ấy được tự do.

Ghi chú

1. Eka-ratti-parivāsena: Cụm từ này cũng có thể có nghĩa là “lưu trú một đêm” (tức là nghỉ ngơi không quá một đêm ở bất kỳ một địa điểm nào); hoặc “trong khoảng thời gian một đêm”. Bản Chú giải thiên về nghĩa được sử dụng trong bản dịch, lưu ý rằng khoảng cách giữa Suppāraka và Sāvatthī là 120 dặm, hoặc xấp xỉ 1.200 dặm. Trong câu chuyện về kể Bāhiya, Bāhiya hoàn toàn không có thành tựu thiền định nào, vì vậy tốc độ kỳ diệu của chuyến đi của ông phải được quy cho năng lực của chư thiên hoặc năng lực của Đức Phật. Tuy nhiên, ông thực sự có thể có sức mạnh do sự tập trung mạnh mẽ cùng với một số năng lực tâm linh đi kèm của riêng mình.

2. Để thảo luận chi tiết hơn về những hướng dẫn này, vui lòng xem bài viết “Thức ăn cho sự tỉnh thức: Vai trò của sự chú ý đúng đắn” (chú ý đúng đắn là chỉ chú ý đến những điều giúp giải thoát).

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_10.html

…………………

Ud 1:9 Kinh Jaṭila | Các nhà tu khổ hạnh – Kinh Phật Tự Thuyết 1:9

Tâm trí được thanh tẩy và tinh khiết không phải bằng nghi thức tẩy uế mà bằng chân lý và sự ngay thẳng.

Tôi nghe như vầy: có một lần Đức Phật ở gần Gayā tại đỉnh núi Gayā. Và vào dịp đó, nhiều nhà tu khổ hạnh , trong những đêm đông lạnh giá “Giữa những ngày thứ 8 trong tuần trăng khuyết của mùa lạnh”,¹ khi tuyết rơi ở Gayā, đã nhảy lên nhảy xuống trong nước, đổ nước lên người, và thực hiện lễ tế lửa, (nghĩ rằng,) “Nhờ đó mà có sự thanh tịnh.”

Đức Phật thấy họ làm như vậy đã thốt lên: Không phải bằng nước mà người ta được thanh tịnh, dù ở đây có nhiều người tắm. Ai sống trong chân lý và ngay thẳng: Người đó là người thanh tịnh; người đó là một Bà la môn.2

Ghi chú

1. “Những ngày thứ tám trong tuần trăng khuyết của mùa lạnh” là 3 ngày 23 Âm lịch trong 3 tháng mùa lạnh. Đây là những ngày diễn ra các nghi lễ Bà la môn để tạo công đức cho người đã khuất. Khoảng thời gian giữa ngày 23 âm lịch đầu tiên và ngày 23 âm lịch cuối cùng của mùa lạnh được coi là thời điểm lạnh nhất trong năm ở miền bắc Ấn Độ. Xem AN 3:35.

2. Nửa sau của câu này giống hệt với nửa sau của  Kinh Pháp Cú Dhp 393.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_9.html

…………………………

Jan 07, 2026

Ud 1:8 Kinh Saṅgāmaji | Saṅgāmaji – Kinh Phật Tự Thuyết 1:8

Vợ cũ của một vị Tỳ Kheo cố gắng dùng con mình để dụ dỗ vị ấy quay trở lại đời sống cư sĩ.

Tôi nghe như vầy: có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Và nhân dịp đó, Tôn giả Saṅgāmaji đã đến Sāvatthī để gặp Đức Phật. Vợ cũ của ông nghe rằng: “Người ta nói thầy Saṅgāmaji đã đến Sāvatthī.” Mang theo đứa con nhỏ của mình, bà đến khu rừng Jeta. Lúc đó, Tôn giả Saṅgāmaji đang ngồi (thiền) dưới gốc cây cả ngày. Vợ cũ đến gặp thầy và khi đến nơi, bà nói:

 “Vị tu sĩ, hãy chăm sóc tôi và đứa con trai nhỏ.” Nghe vậy, Tôn giả Saṅgāmaji im lặng. Lần thứ hai, lần thứ ba, vợ cũ của ông lại nói với ông: “Vị tu sĩ, hãy chăm sóc tôi và đứa con trai nhỏ.” Lần thứ ba, Tôn giả Saṅgāmaji vẫn im lặng.

Rồi vợ cũ bế đứa bé đặt trước mặt Tôn giả Saṅgāmaji, bỏ đi và nói: “Vị tu sĩ, đó là con trai của ông. Hãy chăm sóc nó.”

Lúc đó, Tôn giả Saṅgāmaji không nhìn đứa trẻ cũng không nói chuyện với nó. Vợ ông, sau khi đi được một đoạn, quay lại thấy Tôn giả Saṅgāmaji không nhìn đứa trẻ cũng không nói chuyện với nó. Thấy vậy, bà nghĩ: “Vị tu sĩ này thậm chí còn không quan tâm đến con trai mình.” Bà quay lại và bế đứa trẻ đi.

Đức Phật – với con mắt thần thông, thanh tịnh và vượt trội hơn con người – đã thấy vợ cũ của Tôn giả Saṅgāmaji cư xử như vậy.

Rồi khi thấy như vậy, Đức Phật đã thốt lên: Khi bà ta đến, vị ấy không vui; khi bà ta đi, vị ấy không buồn. Một người chiến thắng trong trận chiến, được giải thoát khỏi xiềng xích: (1) Vị ấy là người mà ta gọi là Bà la môn.

Ghi chú

1. Câu này là một lối chơi chữ kép dựa trên tên của Saṅgāmaji. Theo nghĩa đen, tên này có nghĩa là người chiến thắng trong trận chiến – một từ ghép của saṅgāma (trận chiến) và -ji (người chiến thắng) – nhưng Đức Phật cũng rút ra từ thành phần đầu tiên của từ ghép là từ saṅgā, có nghĩa là “thoát khỏi xiềng xích”. Nói đúng ra, saṅgāma và saṅgā không liên quan đến nhau. Khả năng chơi chữ bằng cách sử dụng những từ không liên quan như vậy được coi là dấu hiệu của trí thông minh và sự hóm hỉnh.

Xem thêm: Kinh Pháp Cú Dhp 345—346

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_8.html

…………………..

Ud 1:7 Kinh Aja | Aja – Kinh Phật Tự Thuyết 1:7

 Bậc Giác Ngộ thì không còn sợ hãi.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Pāva tại điện thờ Ajakalāpaka [Đàn Dê], nơi ở của yêu tinh Ajakalāpaka. Và vào dịp đó, trong bóng tối mịt mù của đêm, Đức Phật ngồi ngoài trời và mưa rơi lác đác.

Rồi yêu tinh Ajakalāpaka muốn gây ra nỗi sợ hãi, kinh hoàng và rùng mình cho Đức Phật, đã đến gần Ngài. Khi cách Ngài không xa, đã ba lần gây náo động và hỗn loạn: “Náo động và hỗn loạn! Náo động và hỗn loạn! Náo động và hỗn loạn! Ta là yêu tinh đây, hỡi vị nhà tu!”

Sau khi nhận ra điều đó, Đức Phật đã thốt lên: Phẩm chất của một vị Bà la môn là người đã vượt lên trên tất cả các Pháp (1), thì người ấy vượt lên trên con yêu tinh này và sự hỗn loạn của nó.

Ghi chú

1. Vượt lên trên các Pháp. Điều này rõ ràng là đề cập đến phẩm chất tâm thiện và ác – kinh này đứng về phía các đoạn trong Kinh điển cho rằng sự giải thoát không phải là một pháp, mà là sự vượt lên trên tất cả các pháp. (Nhìn chung, các kinh điển không nhất quán về điểm này. Kinh Iti 90, cùng với một số kinh khác, nêu rõ rằng sự giải thoát được coi là một pháp. Mặt khác, kinh AN 10:58 lại gọi sự giải thoát là sự chấm dứt của tất cả các pháp. Kinh Sn 5:6 gọi việc đạt được mục tiêu là sự siêu thoát khỏi tất cả các pháp, cũng như kinh Sn 4:6 và Sn 4:10 nói rằng vị Arahant đã siêu thoát khỏi vô dục, được cho là pháp tối cao. Kinh MN 22, trong ví dụ nổi tiếng về chiếc bè, nói rằng tất cả các pháp đều bị từ bỏ ở cuối con đường.)

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_7.html

……………….

Ud 1:6 Mahā Kassapa (Kinh Kassapa) – Kinh Phật Tự Thuyết

Tôn giả Mahā Kassapa chọn đi khất thực nơi người nghèo hơn là giữa chư thiên.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Rājagaha tại Rừng Trúc, nơi nuôi dưỡng những con sóc. Vào dịp đó, Tôn giả Mahā Kassapa ở tại Hang Pipphali, bị đau bệnh và ốm nặng. Sau đó, ngài khỏi bệnh. Khi đã khỏi bệnh, ngài nghĩ: “Hay là ta vào Rājagaha để khất thực?”

Vào dịp đó, 500 vị thiên đang rất mong muốn có cơ hội đặt bát đến Tôn giả Mahā Kassapa. Nhưng Tôn giả Kassapa từ chối 500 vị thiên ấy. Sáng sớm ngài chỉnh lại y nội (1) và  mang theo bát khất thực cùng y áo đi vào Rājagaha khất thực dọc theo các con phố của người nghèo, người túng thiếu, người thợ dệt. Đức Phật thấy Đại đức Kassapa đi vào Rājagaha khất thực dọc theo các con phố của người nghèo, người túng thiếu, người thợ dệt.

Khi thấy như vậy, Đức Phật đã thốt lên: Không nương náu ai khác, vô danh, (2) thuần thành, an trú trong điều cốt lõi, ô uế chấm dứt, giận dữ không còn: Người ấy được Ta gọi là một Bà la môn.

Ghi chú

1. Theo các quy tắc được nêu trong Cv.VIII, một vị Tỳ kheo rời khỏi tu viện ở vùng hoang vu để đi khất thực sẽ chỉ mặc y nội, còn y thượng và y ngoài thì gấp gọn trên vai hoặc lưng. Khi đến gần khu dân cư, vị ấy sẽ dừng lại và chỉnh cho y nội được chỉnh tề: che phủ phần từ trên rốn đến dưới đầu gối, và buông xuống đều phía trước và phía sau. Sau đó, vị ấy sẽ đắp y thượng và y ngoài, sao cho y thượng làm lớp lót cho y ngoài. Nếu vị ấy đi dép, thì sẽ cởi ra và đặt chúng vào một chiếc túi vải nhỏ. Làm xong rồi thì vị ấy mới vào khu dân cư để khất thực.

2. Có một lối chơi chữ lặp âm ở đây giữa anañña (không có ai khác) và aññāta (vô danh).

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_6.html

…………………

Ud 1:5 Bà La Môn (Kinh Bà La Môn) – Kinh Phật Thuyết Như Vậy 1:5

Đức Phật định nghĩa lại thuật ngữ “Bà La Môn” có nghĩa là bất kỳ ai đã giác ngộ, bất kể xuất thân.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tại tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Nhân dịp đó, Tỳ kheo Sāriputta, Tỳ kheo Mahā Moggalāna, Tỳ kheo Mahā Kassapa, Tỳ kheo Mahā Kaccāna, Tỳ kheo Mahā Koṭṭhita, Tỳ kheo Mahā Kappina, Tỳ kheo Mahā Cunda, Tỳ kheo Anuruddha, Tỳ kheo Revata và Tỳ kheo Nanda (1) đã đến gặp Đức Phật. Đức Phật thấy họ đến từ xa, Ngài nói với các Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các Bà La Môn đang đến. Này các Tỳ kheo, các Bà La Môn đang đến.”

Khi điều này được nói ra, một vị Tỳ Kheo, vốn xuất thân từ dòng dõi Bà La Môn, đã hỏi Đức Phật: “Thưa Đức Phật, một người như thế nào thì được gọi là Bà la môn?  Và những phẩm chất nào làm cho một người trở thành Bà La Môn?”

Khi nhận được câu hỏi, Đức Phật đã nói:

Sau khi loại bỏ những tính chất xấu xa,(2) những người luôn luôn chánh niệm, đã giác ngộ, xiềng xích của họ đã chấm dứt: Trong thế gian này, họ thực sự là Bà La Môn.

Ghi chú

1. Đoạn kinh văn này dịch này theo bản tiếng Thái và tiếng Miến Điện. Bản tiếng Sri Lanka thay thế Ven. Nanda trong danh sách này bằng Ven. Ānanda; bản tiếng Bồ Đào Nha (PTS) ghi là Ven. Devadatta và Ven. Ānanda. Hai cách đọc sau có vẻ sai, vì Đức Phật trong kinh này định nghĩa “Bà La Môn” là người có xiềng xích đã chấm dứt – tức là một vị Arahant – trong khi Ven. Ānanda chỉ trở thành Arahant sau khi Đức Phật viên tịch; Ven. Devadatta, sau khi gây chia rẽ trong Tăng đoàn vào cuối đời Đức Phật, đã bị đày xuống địa ngục.

2. Câu này chứa một lối chơi chữ dựa trên các từ brāhmaṇa và bāhita (bị đày ải) – cùng một lối chơi chữ được sử dụng trong Kinh Pháp Cú Dhp 388 và Ud 1:4.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_5.html

………………….

Ud 1:4 - Kinh Huhuṅka - Tính kiêu căng hống hách - Kinh Phật Tự Thuyết  1:4

Một người thực sự xuất sắc không phô trương sự kiêu ngạo.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Bồ đề – cây giác ngộ – Ngài vừa mới giác ngộ. Và vào dịp đó, Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ đề trong bảy ngày liên tục, cảm nhận được niềm an lạc hạnh phúc của sự giải thoát. Sau bảy ngày, Ngài ra khỏi trạng thái thiền định đó.

Rồi có một vị Bà la môn kiêu căng hống hách đến gặp Đức Phật. Khi đến nơi, ông chào hỏi lịch sự đến Đức Phật. Sau đó , ông ta đứng sang một bên và nói với Đức Phật: “Thưa Đức Phật Gotama, một người như thế nào thì được gọi là Bà la môn? Và những phẩm chất nào làm nên một người Bà la môn?”

Khi nhận được câu hỏi đó, Đức Phật đã nói:

Bất kỳ vị Bà La Môn nào đã loại bỏ những tính chất xấu xa,(1) –không kiêu căng hống hách, không ô uế, tâm trí được kiểm soát– đã đạt đến đỉnh cao của trí tuệ,(2) đời sống thánh thiện đã hoàn thiện (3). Vị Bà La Môn đó sẽ nói đúng giáo lý thánh thiện. Vị ấy không kiêu căng hống hách (4) ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Ghi chú

1. Câu này chứa một lối chơi chữ với các từ brāhmaṇa và bāhita (bị loại bỏ) – cùng một lối chơi chữ được sử dụng trong Kinh Pháp Cú Dhp 388 và Ud 1:5.

2. Câu này chơi chữ với thuật ngữ vedanta, có thể có nghĩa là “đỉnh cao của trí tuệ”, “đỉnh cao của kinh Veda”, hoặc “phần bổ sung cho kinh Veda”. Trong hai ý nghĩa sau, đó sẽ là một thuật ngữ đề cập đến một vị là Bà La Môn (brahman-by-birth sinh ra từ dòng dõi Bà La Môn) thì có nhiệm vụ nghiên cứu tất cả kinh Veda và phần bổ sung của chúng, nhưng rõ ràng Đức Phật đang gán cho thuật ngữ này một ý nghĩa khác ở đây như lời giảng ở trên.

3. Ở đây và hai dòng bên dưới, từ brahma có nghĩa là bậc “Thánh”.

4. Xem Sn 4:10 và Sn 4:14.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_4.html

……………………..

Ud 1:3 Giác Ngộ (3) (Kinh Bồ Đề)

Đức Phật, ngay sau khi giác ngộ, quán chiếu các duyên/điều kiện và Lý Duyên Khởi.

Tôi nghe như vầy, có một lần, Đức Phật ở tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Bồ Đề – cây giác ngộ – Ngài vừa mới giác ngộ. Trong dịp đó, Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề suốt bảy ngày liền, cảm nhận được niềm an lạc hạnh phúc của giải thoát. Rồi, sau bảy ngày trôi qua, khi ra khỏi thiền định, vào canh ba của đêm, Ngài chú tâm quán chiếu duyên khởi theo chiều thuận và nghịch như sau:

Khi cái này có, thì cái kia có. Từ sự phát sinh của cái này mà có sự phát sinh của cái kia. Khi cái này không có, thì cái kia không có. Từ sự chấm dứt của cái này mà có sự chấm dứt của cái kia. Nói cách khác:

Từ vô minh là điều kiện cần thiết mà có sự tạo tác.

Từ sự tạo tác là điều kiện cần thiết mà có thức.

Từ thức như một điều kiện cần thiết mà có danh và sắc.

Từ danh và sắc như một điều kiện cần thiết mà sinh ra sáu giác quan.

Từ sáu giác quan như một điều kiện cần thiết mà sinh ra sự tiếp xúc

Từ tiếp xúc như một điều kiện cần thiết mà sinh ra cảm thọ.

Từ cảm thọ như một điều kiện cần thiết mà sinh ra tham ái.

Từ tham ái như một điều kiện cần thiết mà sinh ra chấp trước/sự bám víu.

Từ chấp trước/sự bám víu như một điều kiện cần thiết mà sinh ra cõi tái sinh tương ứng.

Từ cõi tái sinh tương ứng như một điều kiện cần thiết mà có sự sinh ra.

Từ sự sinh ra như một điều kiện cần thiết, mà có già và chết, khổ đau, than khóc, đau đớn, phiền não và tuyệt vọng xuất hiện. Đó là nguồn gốc của toàn bộ khối khổ đau và phiền não này.

Giờ đây, từ sự tan biến và chấm dứt không còn dư sót của vô minh mà sinh ra sự chấm dứt của tạo tác.

Từ sự chấm dứt của tạo tác mà sinh ra sự chấm dứt của ý thức.

Từ sự chấm dứt của ý thức mà sinh ra sự chấm dứt của danh và sắc.

Từ sự chấm dứt của danh và sắc mà sinh ra sự chấm dứt của sáu giác quan.

Từ sự chấm dứt của sáu giác quan dẫn đến sự chấm dứt của tiếp xúc.

Từ sự chấm dứt của tiếp xúc dẫn đến sự chấm dứt của cảm thọ.

Từ sự chấm dứt của cảm thọ dẫn đến sự chấm dứt của tham ái.

Từ sự chấm dứt của tham ái dẫn đến sự chấm dứt của chấp trước/sự bám víu.

Từ sự chấm dứt của chấp trước/sự bám víu dẫn đến sự chấm dứt của cõi tái sinh tương ứng.

Từ sự chấm dứt của cõi tái sinh tương ứng dẫn đến sự chấm dứt của sự sinh ra.

Từ sự chấm dứt của sự sinh ra, thì già và chết, đau khổ, than khóc, đau đớn, phiền não và tuyệt vọng đều chấm dứt. Đó là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ đau và phiền não này.

Rồi khi nhận ra ý nghĩa của điều đó, Đức Phật đã thốt lên:

Khi các hiện tượng, sự việc trở nên rõ ràng đối với vị Bà la môn nhiệt thành, sống trong thiền định, Ngài đứng lên, đánh tan đội quân của Ma-ra, như mặt trời chiếu sáng bầu trời.(1)

Ghi chú

1. Câu thơ này là một ví dụ về “ngọn đèn” – một hình thức thơ ca trong đó một từ, chẳng hạn như tính từ hoặc động từ, có chức năng trong hai hoặc nhiều mệnh đề hoặc câu khác nhau. Tên gọi của hình tượng này xuất phát từ hình ảnh các mệnh đề hoặc câu khác nhau “tỏa ra” từ một từ duy nhất. Trong trường hợp này, từ chỉ ngọn đèn là “đứng”. Để biết thêm các ví dụ về đèn, xem Ud 5:3 và Ud 8:9.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_3.html

……………………….

Jan 06, 2026

Ud 1:2 Giác Ngộ (2) (Kinh Bồ Đề)

Tôi nghe như vầy, có một lần, Đức Phật ở tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Bồ Đề – cây giác ngộ – Ngài vừa mới giác ngộ. Và vào dịp đó, Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề suốt bảy ngày liền, cảm nhận được niềm hạnh phúc an lạc của giải thoát. Rồi, sau bảy ngày, khi ra khỏi trạng thái thiền định đó, vào canh hai của đêm, Ngài suy nghĩ đến duyên khởi theo chiều ngược lại,(1) như sau:

Khi cái này không có, thì cái kia không có.

Khi cái này diệt thì cái kia diệt. Nói cách khác: Do sự chấm dứt của vô minh mà có sự chấm dứt của các sự tạo tác.

Từ sự chấm dứt của sự tạo tác mà dẫn đến sự chấm dứt của thức.

Từ sự chấm dứt của thức mà dẫn đến sự chấm dứt của danh sắc.

Từ sự chấm dứt của danh sắc mà dẫn đến sự chấm dứt của sáu giác quan.

Từ sự chấm dứt của sáu giác quan mà dẫn đến sự chấm dứt của xúc.

Từ sự chấm dứt của xúc mà dẫn đến sự chấm dứt của cảm thọ.

Từ sự chấm dứt của cảm thọ mà dẫn đến sự chấm dứt của tham ái.

Từ sự chấm dứt của tham ái mà dẫn đến sự chấm dứt của bám chấp/duy trì.

Từ sự chấm dứt của bám chấp/duy trì mà dẫn đến sự chấm dứt của sự tái sinh nơi cõi tương ứng.

Từ sự chấm dứt của sự tái sinh nơi cõi tương ứng mà dẫn đến sự chấm dứt của việc sinh ra.

Từ sự chấm dứt của việc sinh ra, thì già - chết, khổ đau, than khóc, đau đớn, phiền não và tuyệt vọng đều chấm dứt. Đó là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ đau và phiền não này.

Rồi, khi nhận ra ý nghĩa của việc này, Đức Phật đã thốt lên trong dịp đó:

Khi các hiện tượng trở nên rõ ràng đối với vị Bà la môn – người thành tâm, sống trong thiền định – mọi nghi ngờ của vị ấy đều biến mất khi vị ấy thấu hiểu sự chấm dứt của các duyên/điều kiện cần thiết.

Ghi chú

1. Trong đoạn Kinh văn tương tự ở Mv.I.1.4, Đức Phật nêu Lý Duyên Khởi theo cả chiều thuận và chiều nghịch.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud1_2.html

…………………..

Ud 1:1 Kinh Phật Tự Thuyết 1:1  Giác Ngộ (1) (Kinh Bồ Đề)

Tôi nghe như vầy: có một lần, Đức Phật ở tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Bồ Đề – cây giác ngộ – Ngài vừa mới giác ngộ. Và vào dịp đó, Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề suốt bảy ngày liền, cảm nhận niềm hạnh phúc an lạc của giải thoát. Rồi, sau bảy ngày, khi ra khỏi trạng thái thiền định đó, vào canh đầu tiên của đêm, Ngài suy nghĩ về Lý Duyên Khởi theo chiều thuận,(1) như sau:

Khi cái này có, thì cái kia có. Từ sự phát sinh của cái này mà có sự phát sinh của cái kia.

Nói cách khác: Từ vô minh là điều kiện (duyên) tiên quyết mà có sự tạo tác.

Từ sự tạo tác là điều kiện tiên quyết mà có thức.

Từ thức là điều kiện tiên quyết mà có danh và sắc.

Từ danh và sắc là điều kiện tiên quyết mà có sáu giác quan.

Từ sáu giác quan là điều kiện tiên quyết mà có sự tiếp xúc.

Từ sự tiếp xúc là một điều kiện cần thiết mà sinh ra cảm thọ, cảm giác.

Từ cảm thọ là một điều kiện cần thiết mà sinh ra tham ái.

Từ tham ái là một điều kiện cần thiết mà sinh ra sự bám chấp/duy trì.(2)

Từ sự bám chấp/duy trì là một điều kiện cần thiết mà có việc tái sinh về 1 cõi tương ứng(hữu).

Từ việc tái sinh về cõi tương ứng là một điều kiện cần thiết mà có việc sinh ra.

Từ việc sinh ra như một điều kiện cần thiết, mới xuất hiện già và chết, khổ đau, than khóc, đau đớn, phiền não và tuyệt vọng. Đó là nguồn gốc của toàn bộ khối khổ đau và phiền não này.(3)

Rồi, khi nhận ra ý nghĩa của việc này, Đức Phật đã thốt lên trong dịp đó:

Khi các sự việc trở nên rõ ràng đối với vị Bà la môn – người nhiệt tâm, sống trong thiền định – mọi nghi ngờ của vị ấy đều biến mất khi vị ấy biết rõ được sự việc cùng với nguyên nhân của nó.

Ghi chú

1. Trong đoạn văn tương đương trong Kinh Mv.I.1.2, Đức Phật nêu sự phụ thuộc đồng phát sinh của Duyên Khởi theo cả chiều thuận và chiều nghịch.

2. Từ ghép này – bám chấp/duy trì – là dịch từ thuật ngữ Pali upādāna. Upādāna là từ ghép, được sử dụng chỉ cho hai khía cạnh của một quá trình vật lý được áp dụng một cách ẩn dụ cho tâm trí: hành động bám chấp, trong đó ngọn lửa được duy trì nhờ nhiên liệu, cùng với sự nuôi dưỡng do nhiên liệu cung cấp. Nói về tâm, upādāna biểu thị cả hành động bám chấp và cảnh mà tâm bám chấp vào, cùng nhau nuôi dưỡng cho quá trình hình thành và các yếu tố đi kèm dẫn đến đau khổ và phiền não. Để biết thêm về hình ảnh này và ý nghĩa của nó đối với thực hành, xin xem quyển The Mind Like Fire Unbound (Tâm Như Ngọn Lửa Không Bị Ràng Buộc).

3. Lưu ý rằng Duyên Khởi (nương tựa nhau để sinh khởi) (paṭicca samuppāda) được diễn đạt bằng các quá trình – của các sự kiện và hành động – mà không đề cập đến một khuôn khổ chứa đựng các quá trình đó. Nói cách khác, nó không đề cập đến sự tồn tại hay không tồn tại của các tác nhân thực hiện hành động, hoặc một khuôn khổ trong thời gian và không gian nơi các quá trình này diễn ra. Do đó, cho phép hiểu về nguyên nhân của khổ đau và phiền não mà không cần đề cập đến sự tồn tại hay không tồn tại của một “tôi” hay một “ai khác” chịu trách nhiệm cho những sự kiện đó.

Thay vào đó, các sự kiện được xem đơn giản là các sự kiện trong bối cảnh của quá trình – một cách nhìn nhận cho phép từ bỏ sự bám chấp vào bất kỳ sự kiện nào trong số này, để chấm dứt khổ đau. Ngay cả ý niệm về một “tôi” hay một “ai khác” cũng được xem đơn giản là một phần của quá trình (dưới các yếu tố cấu thành và yếu tố phụ là “danh xưng” có danh và sắc).

Điều này cho phép từ bỏ bất kỳ sự gắn bó nào với ảo tưởng “Tôi là”, như đã đề cập trong Ud 2:1, 4:1, 6:6 và 7:1. Bằng cách này, việc xử lý  Duyên Khởi (sự phụ thuộc cùng phát sinh) trong ba udāna đầu tiên, mặc dù ngắn gọn, thực sự tạo tiền đề giúp ta hiểu một số giáo lý nghe có vẻ nghịch lý hơn xuất hiện sau này trong tuyển tập. Để thảo luận về Lý Duyên Khởi, xin xem quyển The Shape of Suffering "Hình dạng của khổ đau". Để thảo luận sâu hơn về vai trò của nó trong việc hình thành (các sự việc) và từ bỏ suy nghĩ về "Tôi là", xin xem quyển Skill in Questions "Kỹ năng đặt câu hỏi", chương 3 và 8.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/

 

Comments

Popular posts from this blog