UDANA 3 - KINH PHẬT TỰ THUYẾT PHẨM 3

Jan 14, 2026

Ud 3:10 – Kinh Phật Tự Thuyết 3:10 - Quan Sát Thế Giới (Kinh Loka)

Tôi nghe như vầy, có một lần, Đức Phật ở tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Bồ đề, cây giác ngộ, Ngài vừa mới giác ngộ. Vào dịp đó, Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ đề suốt bảy ngày liền, cảm nhận niềm hạnh phúc an lạc của giải thoát. Rồi sau bảy ngày, khi ra khỏi trạng thái thiền định đó, Ngài quan sát thế giới bằng con mắt của một bậc Giác Ngộ. Ngài thấy chúng sinh đang bốc cháy với muôn vàn sự nóng nảy và muôn vàn ngọn lửa sinh ra từ tham ái, sân hận và si mê.

Rồi Ngài thốt lên: Thế giới này đang bốc cháy. Bị khổ sở bởi sự tiếp xúc, họ gọi căn bệnh này là ‘bản ngã.’ Dù là dùng bất cứ phương tiện nào để tiếp xúc và cảm nhận thì họ vẫn không thấy được như thật.(1)

Không thấy được bản chất thật của sự tái sinh, thế giới bị ràng buộc vào sự tái sinh, bị đau khổ bởi sự tái sinh mà vẫn vui thích trong chính sự tái sinh đó. Nơi nào có niềm vui, nơi đó có nỗi sợ hãi. Điều gì làm người ta sợ hãi là đau khổ, phiền não.

Sống đời sống thánh thiện này là để từ bỏ sự tái sinh.

Bất cứ nhà tu hành hay Bà la môn nào nói rằng dùng tái sinh để giải thoát khỏi sự tái sinh, Ta nói rằng tất cả những người đó đều chưa được giải thoát khỏi sự tái sinh.

Và bất cứ nhà tu hành hay Bà la môn nào nói rằng dùng sự không tái sinh để thoát khỏi sự tái sinh, Ta nói rằng tất cả những người đó đều chưa thoát khỏi sự tái sinh.

Đau khổ xuất hiện là do nắm giữ.(2) Khi chấm dứt của mọi sự nắm giữ, bám chấp thì  không còn sự đau khổ nào xuất hiện nữa.

Hãy nhìn thế giới này: Chúng sinh, bị đau khổ bởi vô minh dày đặc, không được giải thoát khỏi tham ái đối với những gì đã xảy ra.

Tái sinh ở bất kỳ cấp độ nào, ở bất cứ đâu, bằng bất kỳ cách nào, đều không ổn định, đau khổ, dễ thay đổi.

Nhìn thấy những điều này đã xảy ra với trí phân biệt đúng đắn, người ta từ bỏ tham ái với việc tái sinh và không vui thích với sự không tái sinh.(3)

Từ sự chấm dứt hoàn toàn tham ái đến sự phai nhạt và chấm dứt không còn dư sót: đó là giải thoát. Đối với vị Tỳ kheo được giải thoát thông qua việc không bám chấp/nắm giữ thì không còn sự tái sinh nào nữa. Vị ấy đã chinh phục Māra, chiến thắng trận chiến, đã vượt qua tái sinh: Là Như vậy.

Ghi chú

1. Nói cách khác, bất kể người ta dựa vào điều gì để giải thích một trải nghiệm, đến khi giải thích xong thì điều ấy đã thay đổi.

2. Bản tiếng Thái ghi là sabb’upadhiṁ hi. Các bản tiếng Miến Điện và Sri Lanka ghi là  upadhiṁ hi: “Vì đau khổ xuất hiện do phụ thuộc vào sự nắm giữ, đạt được.” Đoạn kinh văn tương tự trong Udānavarga (32.36) ghi theo ý của bản tiếng Miến Điện và Sri Lanka.

3. Đoạn kinh văn này chỉ ra lối thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan đã nêu ở trên, đó là người ta không thể đạt được giải thoát thông qua việc tái sinh hay không tái sinh. Thay vì tập trung vào việc liệu một người muốn dùng “những gì đã xảy ra” để tái sinh hay không tái sinh, thì người ấy nên có thái độ vô tư đối với “những gì đã xảy ra” như nó vốn có, và điều này sẽ dẫn đến giải thoát. Về điểm này, xem quyển The Paradox of Becoming Nghịch lý của sự tái sinh, chương 2 và 6.

Xem thêm: MN 113; SN 1:1; SN 12:15; Iti 49

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud3_10.html

………………….

Ud 3:9 Kinh Phật Tự Thuyết 3:9

Kinh Sippa – Các Nghề (Sippa Sutta)

Thêm những bài học về những điều mà các vị Tỳ kheo nên và không nên bàn luận.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Lúc ấy, sau bữa ăn, khi đi khất thực về, một số đông các vị  Tỳ kheo đang ngồi nơi hội đường thì nảy sinh cuộc thảo luận: “Này các bạn, ai biết nghề nào? Ai đang học nghề nào? Nghề nào là tối thượng trong các nghề?”

Một số vị nói: “Nghề nài voi là nghề tối thượng trong các nghề.” Có người nói: “Nghề huấn luyện ngựa là nghề cao quý nhất”, “Nghề làm xe ngựa”, “Bắn cung”,  “Kiếm thuật”,  “Nghề xem tướng sọ”, “Tính toán”, “Kế toán”,  “Viết lách”, “Sáng tác văn chương”, “Vũ trụ học” Có người lại nói: “Thuật phong thuỷ, xem đất đai là nghề cao quý nhất”. Và cuộc thảo luận này không đi đến hồi kết.

Rồi Đức Phật, vào cuối buổi chiều rời khỏi nơi ẩn cư đi đến hội đường. Ngài ngồi xuống một chỗ đã được soạn sẵn. Ngài nói với các vị Tỳ kheo: “Các thầy đang tụ họp ở đây vì chủ đề gì? Và cuộc thảo luận về vấn đề gì mà không đi đến hồi kết?”

“Thưa Đức Phật, vừa rồi sau bữa ăn, khi đi khất thực về, chúng con đang ngồi nơi hội đường này thì cuộc thảo luận nảy sinh: [Họ nhắc lại những gì đã nói.]”

“Này các Tỳ kheo, các thầy là con cái của những gia đình tử tế, sau khi rời bỏ gia đình vì đức tin mà sống đời vô gia cư, thật là không đúng khi bàn về chủ đề như vậy. Khi đã tụ họp, các thầy có hai bổn phận: hoặc thuyết pháp, hoặc im lặng thánh thiện.”

Rồi Đức Phật lúc ấy đã thốt lên: Tự mình sống không cần nghề nghiệp, nhẹ nhàng, khao khát mục tiêu giải thoát, các giác quan được kiểm soát, được tự do ở mọi nơi, sống không nhà, không sở hữu, không ham muốn, đã diệt trừ Mara, đi một mình: là một vị Tỳ kheo đúng nghĩa.

Ghi chú

1. Chú giải ghi là mudda-sippam. Bản tiếng Thái ghi là muddha-sippam, có thể có nghĩa là thuật xem tướng sọ, nhưng điều đó không phù hợp với các mục trước trong danh sách, tất cả đều liên quan đến kỹ năng quân sự.

Xem thêm: SN 46:45

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud3_9.html

...............

Ud 3:8 – Kinh Phật Tự Thuyết 3:8

Kinh Piṇḍa | Khất Thực

Đức Phật quở trách các vị Tỳ kheo đang bàn tán về những điều tốt đẹp có thể gặp được khi khất thực.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Vào dịp đó, sau bữa ăn, khi đi khất thực về, một số đông các vị sư ngồi tại hội đường cây kareri (Cây Vô Ưu)thì cuộc thảo luận này nảy sinh: “Này các bạn, một vị sư khi đi khất thực(1) thì có khi mắt được nhìn thấy những cảnh đẹp, tai được nghe thấy những âm thanh êm ái, mũi được ngửi thấy những mùi thơm dễ chịu, lưỡi được nếm những vị ngon, thân có được những xúc chạm dễ chịu. Một vị sư khi đi khất thực, được tôn vinh, kính trọng, sùng bái và được đảnh lễ.

“Vậy nên, này các bạn, chúng ta hãy làm những vị sư khất thực. Khi đi khất thực, có khi mắt được nhìn thấy những cảnh đẹp, tai được nghe thấy những âm thanh êm ái, mũi ngửi thấy những mùi thơm dễ chịu, lưỡi nếm được những vị ngon, thân có những xúc chạm dễ chịu. Một vị sư khi đi khất thực, được tôn vinh, kính trọng, sùng bái và được đảnh lễ. Và cuộc thảo luận này không đi đến hồi kết.

Rồi Đức Phật, vào cuối buổi chiều, ra khỏi nơi ẩn cư của mình đến hội đường cây kareri (cây vô ưu) và khi đến nơi, Ngài ngồi xuống một chỗ ngồi đã được bày sẵn. Ngài nói với các vị tỳ kheo: “Các thầy đang ngồi đây bàn chuyện gì? Và cuộc thảo luận về điều gì mà không đi đến hồi kết?”

 “Thưa Đức Phật, vừa nãy, sau bữa ăn, trên đường đi khất thực về, chúng con ngồi tụ họp ở hội đường cây kareri (cây vô ưu) thì cuộc thảo luận này nảy sinh: [Họ nhắc lại những gì đã nói.]”

“Này các tỳ kheo, thật không đúng đắn khi con cái của những gia đình tử tế, sau khi rời bỏ gia đình vì đức tin để sống đời vô gia cư, lại bàn luận về một chủ đề như vậy.” Khi các thầy tụ họp lại, các thầy có hai bổn phận: hoặc thuyết pháp hoặc im lặng thánh thiện.”2

Rồi Đức Phật trong dịp ấy đã thốt lên:

Vị Tỳ kheo đi khất thực, tự nuôi sống bản thân chứ không nuôi ai khác: Các chư thiên mến mộ Bậc Như Vậy, vì vị ấy không ham danh vọng hay lời khen.

Ghi chú

1. Một vị Tỳ kheo chuyên tâm tu học thực hành chỉ dùng thức ăn nhận được khi đi khất thực.

2. SN 21:1 coi im lặng thánh thiện tương đương với thiền định thứ hai. Điều này dường như liên quan đến việc tư duy và đánh giá có định hướng, mà MN 44 xác định là những lời bịa đặt, không đúng, vì không thể nào bỏ qua thiền định thứ nhất mà chuyển ngay sang thiền định thứ hai được.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud3_8.html

……………..

Ud 3:7 – Kinh Phật Tự Thuyết 3:7

Kinh Kassapa | Mahā Kassapa

Vua trời Sakka cải trang để cúng dường cho Tôn giả Mahā Kassapa.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Rājagaha tại Rừng Trúc, chỗ nuôi dưỡng những con sóc. Và vào dịp đó, Tôn giả Mahā Kassapa ở tại Hang Pipphali, ngồi thiền bảy ngày liền, đạt đến một mức độ định tâm nhất định. Sau bảy ngày, ngài ra khỏi trạng thái định tâm đó. Rồi ngài chợt nghĩ: “Hay là ta vào Rājagaha để khất thực?”

Vào dịp đó, có 500 vị thiên đang rất hoan hỷ muốn được đặt bát cho Tôn giả Mahā Kassapa. Nhưng Tôn giả từ chối 500 vị thiên này, vào sáng sớm chỉnh lại y áo và mang theo bát khất thực cùng y ngoài đi vào Rājagaha để khất thực.

Lúc này vua trời Đao Lợi là Sakka, muốn đặt bát cho Đại đức Kassapa. Vì vậy, ông cải trang thành một người thợ dệt làm việc bên khung dệt, trong khi vợ ông là Sujātā, một tiên nữ Atula, cuốn thoi. Tôn giả Kassapa lần lượt đi khất thực khắp Rājagaha, không bỏ sót bất kỳ nhà nào, ngài đến nhà Sakka. Sakka nhìn thấy ngài từ xa tiến đến liền ra khỏi nhà để đón tiếp. Nhận lấy bát khất thực từ tay ngài, Sakka bước vào nhà, lấy cơm chín từ nồi, múc đầy bát rồi trả lại cho Tôn giả Kassapa. Phần cúng dường đó bao gồm nhiều loại cà ri, nhiều loại nước chấm.

Một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu Tôn giả Mahā Kassapa, “Là vị thiên nào có quyền năng và sức mạnh như thế này?” Rồi ngài lại nghĩ, “Phải chăng là vua trời Đao Lợi Sakka?” Khi nhận ra điều đó, ngài nói với Sakka, “Có phải ngươi đang làm việc này không, Kosiya?(2) Đừng bao giờ làm điều gì như thế này nữa.”

“Chúng con cũng cần công đức, thưa Tôn giả Kassapa. Chúng con cũng cần dùng công đức , thưa Tôn giả Kassapa.”

Rồi, vị vua trời cúi lạy Tôn giả Mahā Kassapa và đi vòng sang bên phải ngài, Sakka bay lên không trung và thốt lên ba lần:

“Ôi sự bố thí đến ngài Kassapa là sự bố thí tối thượng!”

“Ôi sự bố thí đến ngài Kassapa là sự bố thí tối thượng!”

“Ôi sự bố thí đến ngài Kassapa là sự bố thí tối thượng!”

Đức Phật với thiên nhĩ thông vượt trội so với con người, nghe vua trời Sakka ở trên không trung thốt lên ba lần:

“Ôi sự bố thí đến ngài Kassapa là sự bố thí tối thượng!”

 “Ôi sự bố thí đến ngài Kassapa là sự bố thí tối thượng!”

 “Ôi sự bố thí đến ngài Kassapa là sự bố thí tối thượng!”

Khi nghe như vậy, Đức Phật đã thốt lên: Vị Tỳ kheo đi khất thực để nuôi thân chứ không nuôi ai khác: Chư thiên mến mộ Bậc Như Vậy, Bậc an nhiên và luôn luôn chánh niệm.

Ghi chú

1. Đi khất thực không bỏ sót bất kỳ nhà nào là một trong mười ba pháp tu khổ hạnh (dhutaṅga) mà nhà tu khổ hạnh có thể tùy chọn. Xem Thag 16:7.

2. Kosiya – “con Cú” –

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud3_7.html

………………..

Jan 13, 2026

Ud 3:6 Kinh Phật Tự Thuyết 3:6

Kinh Pilinda - Một số thói quen cũ khó bỏ.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Rājagaha, tại Rừng Trúc, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào dịp đó, Tôn giả Pilindavaccha đi vòng quanh nói chuyện với các vị Tỳ kheo như thể họ là những người thấp hèn.

Vì vậy, một số đông các Tỳ kheo đến gặp Đức Phật, khi đến nơi, họ cúi lạy Ngài và ngồi sang một bên. Họ nói với Ngài: “Thưa Đức Phật, Tôn giả Pilindavaccha đi khắp nơi nói chuyện với các vị Tỳ kheo như thể họ là những người thấp hèn.”

Rồi Đức Phật bảo một vị Tỳ kheo nọ: “Này Tỳ kheo, hãy đến đây. Nhân danh ta, hãy gọi Tôn giả Pilindavaccha và nói rằng: ‘Đức Phật cho gọi thầy Vaccha.’”

Đáp lại Đức Phật: “Vâng thưa Đức Phật,” vị Tỳ kheo đến gặp Tôn giả Pilindavaccha và nói với Tôn giả: “Đức Phật cho gọi thầy Vaccha.”

Đáp lại vị sư kia, “Vâng, thưa thầy,” rồi Tôn giả Pilindavaccha đến gặp Đức Phật, và khi đến nơi, sau khi cúi lạy Ngài, ông ngồi sang một bên. Đức Phật hỏi ông, “Có đúng là thầy  hay đi khắp nơi xưng hô với các vị Sư như thể họ là những người thấp hèn, Pilindavaccha?”

“Vâng, thưa Đức Phật.”

Rồi Đức Phật sau khi quán chiếu những kiếp sống trước đây của Tôn giả Pilindavaccha, đã nói với các vị Sư: “Đừng phật lòng về Sư Vaccha. Không phải vì lòng sân hận khinh khi mà Sư ấy đi khắp nơi xưng hô với các vị như thể là những người thấp hèn. Trong 500 kiếp liên tiếp, sư Vaccha đã được sinh ra trong các gia đình Bà la môn. Từ lâu ông ấy đã quen với việc xưng hô với mọi người là người thấp hèn. Đó là lý do tại sao ông ấy đi khắp nơi xưng hô với các vị Sư như thể họ là những người thấp hèn.”

Rồi Đức Phật vào dịp ấy đã thốt lên: Người nào không có sự dối trá hay kiêu ngạo, lòng tham đã chấm dứt, không sở hữu, không còn ham muốn, cơn giận đã tan biến, tâm trí được giải thoát:(1) Người ấy là một vị tu tập. Người ấy là một vị Bà la môn: một vị Tỳ kheo đúng nghĩa.

Ghi chú

1. Phần đầu của câu này gần như giống hệt với phần đầu của một câu trong Sn 3:4 (câu 469 trong bản PTS).

Xem thêm: SN 21:4

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud3_6.html

……………………..

Jan 11, 2026

Kinh Phật Tự Thuyết Phẩm 3

Ud 3:5  Kinh Phật Tự Thuyết 3:5

Kinh Kolita | Mahā Moggallāna

Tôn Giả Mahā Moggallāna thiền định.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Vào dịp đó, Tôn Giả Mahā Moggallāna ngồi không xa Đức Phật, chân xếp bằng, thân thẳng, thân vững vàng, tâm chìm sâu trong chánh niệm. Đức Phật thấy Tôn Giả Mahā Moggallāna ngồi không xa, chân xếp bằng, thân thẳng, thân vững vàng, tâm chìm sâu trong chánh niệm.

Khi thấy như vậy, Đức Phật đã thốt lên: Với thân vững vàng, tâm chìm sâu trong chánh niệm, kiềm chế sáu căn, luôn luôn tập trung, vị Tỳ kheo ấy có thể tự mình biết được sự giải thoát.

Xem thêm: MN 119; SN 47:20

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/

………………………..

Ud 3:4 – Kinh Phật Tự Thuyết 3:4

Kinh Sāriputta

Tôn giả Sāriputta thiền định, tâm vững vàng như núi đá.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Vào dịp đó, Tôn giả Sāriputta ngồi không xa Đức Phật, chân xếp bằng, thân thẳng, đặt chánh niệm lên hàng đầu. Đức Phật thấy Tôn giả Sāriputta ngồi không xa, chân xếp bằng, thân thẳng, đặt chánh niệm lên hàng đầu.

Rồi Đức Phật vào dịp ấy đã thốt lên: Như một ngọn núi đá vững chắc, kiên cố, vị Tỳ kheo ấy đã chấm dứt vô minh, cũng không hề lay chuyển như vậy, giống như một ngọn núi.(1)

Ghi chú

1. Câu thơ này cũng xuất hiện trong số các câu thơ được cho là của Tôn giả Revata tại Thag 14:1 (câu 651 trong ấn bản PTS) và trong số các câu thơ được cho là của Tôn giả Sāriputta tại Thag 17:2 (câu 1000 trong ấn bản PTS).
https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud3_4.html

…………………

Ud 3:3 – Kinh Phật Tự Thuyết 3:3

Kinh Yasoja

Một nhóm Tỳ kheo bị Đức Phật quở trách, các vị coi đó là sự khích lệ để đạt được Giác ngộ.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Nhân dịp đó, khoảng 500 tỳ kheo, do Tôn Giả Yasoja dẫn đầu, đã đến Sāvatthī để gặp Đức Phật. Khi các Tỳ kheo đến thăm chào hỏi các Tỳ kheo cư ngụ, rồi dọn dẹp chỗ ở và cất y bát, họ đã gây ra tiếng ồn ào rất lớn. Đức Phật liền hỏi thầy Ānanda: “Ānanda, tiếng ồn ào đó là gì, tiếng ồn ào lớn như tiếng ngư dân đánh bắt cá vậy?”

 “Thưa Đức Phật, có khoảng 500 vị Tỳ kheo, do Tôn giả Yasoja dẫn đầu, đã đến Sāvatthī để gặp Đức Phật. Các vị Tỳ kheo viếng thăm chào hỏi các vị Tỳ kheo cư ngụ, họ dọn dẹp chỗ ở và cất y bát nên gây ra tiếng ồn ào đó ạ.”

“Vậy thì Ānanda, hãy nhân danh Ta nói với các vị Tỳ kheo đó rằng: ‘Đức Phật cho gọi các thầy.’”

Thầy Ananda đáp: “Vâng, thưa Đức Phật,” rồi đến gặp các vị Tỳ kheo và nói: “Đức Phật cho gọi các thầy.”

Đáp lời thầy Ānanda, “Vâng, thưa thầy,” các vị Tỳ kheo đến gặp Đức Phật và khi đến nơi, sau khi cúi lạy Ngài, họ ngồi sang một bên. Đức Phật nói với họ, “Này các Tỳ kheo, tại sao các thầy lại gây ra tiếng ồn ào, rất ồn ào, như những người ngư phủ đánh bắt cá vậy?”

Nghe vậy, Tôn giả Yasoja thưa rằng: “Thưa Đức Phật, 500 vị Tỳ kheo này đã đến Sāvatthī để gặp Đức Phật. Trong lúc chào hỏi các vị Tỳ kheo cư ngụ, dọn dẹp chỗ ở và cất y bát, họ đã gây ra tiếng ồn ào rất lớn.”

“Các Tỳ kheo, hãy đi đi. Ta không tiếp các thầy. Các thầy không được ở gần chỗ Ta.”

“Vâng, thưa Đức Phật,” các vị Tỳ kheo đứng dậy, cúi lạy Đức Phật, rồi rời đi, vòng sang bên phải Ngài. Các vị dọn dẹp chỗ ở gọn gàng, lấy y bát, lên đường đi ngang qua các khu vực của người Vajji. Rồi khi đến bên bờ sông Vaggamudā, các thầy dựng lều lá và an cư mùa mưa tại đó.

Khi các vị Tỳ kheo bước vào đợt An cư mùa mưa, Tôn giả Yasoja nói với các vị: “Này các bạn, Đức Phật không tiếp chúng ta là mong muốn điều tốt lành cho chúng ta, tìm kiếm sự an lạc cho chúng ta, có lòng thương xót và hành động xuất phát từ lòng thương xót. Chúng ta hãy sống sao cho Đức Phật hài lòng.”

 “Vâng, thưa thầy,” các vị Tỳ kheo đáp lại Tỳ kheo Yasoja. Và như vậy, các vị sống ẩn dật, nhiệt thành và kiên định, mỗi vị đều chứng đắc Tam Minh [nhớ lại kiếp trước, biết về sự sinh diệt của chúng sinh, và biết về sự đoạn diệt phiền não] trong suốt đợt An cư mùa mưa ấy.

Rồi Đức Phật sau khi ở lại Sāvatthī đủ lâu, đã đi về hướng Vesālī. Sau khi đi từng chặng, Ngài đến Vesālī và ở lại đó trong hội đường có mái che tại Rừng Lớn. Rồi hướng tâm trí đến các vị Tỳ kheo đang ở bên bờ sông Vaggamudā, ngài nói với Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hướng này đối với ta thật sáng sủa,. Hướng này đối với ta thật rạng rỡ. Ta không hề ngần ngại đến và chú ý đến nơi các vị Tỳ kheo bên bờ sông Vaggamudā đang ở. Hãy cho người đến gặp họ và nói: ‘Đức Phật gọi các thầy. Đức Phật muốn gặp các thầy.’”

 “Vâng, thưa Đức Phật,” Tôn giả Ānanda đáp lại rồi đến gặp một vị Tỳ kheo nọ và nói: “Nhờ thầy đến gặp các vị Tỳ kheo bên bờ sông Vaggamudā và nói với họ: ‘Đức Phật cho gọi các thầy. Đức Phật muốn gặp các thầy.’”

Sư ấy đáp lại Tôn giả Ānanda: “Vâng, thưa thầy,”  rồi giống như một người đàn ông mạnh mẽ có thể co duỗi cánh tay, vị ấy biến mất khỏi hội đường có mái che trong Rừng Lớn và hiện ra trước mặt các vị sư trên bờ sông Vaggamudā. Vị ấy nói với họ: “Đức Phật cho gọi các thầy. Đức Phật muốn gặp các thầy.”

Họ đáp lại: “Vâng, thưa thầy”. Rồi các vị sư thu dọn chỗ ở gọn gàng, lấy y bát và biến mất khỏi bờ sông Vaggamudā, giống như một người đàn ông mạnh mẽ có thể co duỗi cánh tay, và hiện ra trước mặt Đức Phật nơi hội đường có mái che ở Rừng Lớn.

Lúc ấy, Đức Phật đang ngồi nhập Tứ Thiền [là thiền Vô Sắc Không Vô Biên Xứ hoặc Thức Vô Biên Xứ]. Các vị Tỳ kheo chợt nghĩ: “Vậy Đức Phật đang ở trong cõi thiền nào?” Họ liền nhận ra: “Ngài đang ở trong cõi Tứ Thiền Vô Sắc.” Thế là tất cả đều ngồi thiền định Tứ Thiền Vô Sắc.

Rồi Tôn Giả Ānanda – khi đêm đã khuya, vào cuối canh đầu tiên, đứng dậy, khoác y lên vai, đứng đối diện Đức Phật, chắp tay trước ngực kính lễ Ngài và thưa rằng: “Thưa Đức Phật, đêm đã khuya rồi. Canh đầu tiên đã tàn. Các vị Tỳ kheo viếng thăm đã ngồi lâu rồi. Xin Đức Phật chào hỏi các vị.” Khi Tôn giả nói như vậy, Đức Phật im lặng.

Rồi lần thứ hai, khi đêm đã khuya, vào cuối canh giữa, Tôn giả Ānanda đứng dậy khỏi chỗ ngồi, khoác y lên vai, đứng đối diện Đức Phật, chắp tay trước ngực kính lễ Ngài và thưa rằng: “Thưa Đức Phật, đêm đã khuya. Canh giữa đã tàn. Các vị Tỳ kheo đến viếng đã ngồi đây khá lâu. Xin Đức Phật chào đón các vị ấy.” Khi Tôn giả nói như vậy, Đức Phật im lặng.

Rồi lần thứ ba, khi đêm đã mãn, canh cuối đã tàn, lúc bình minh sắp ló dạng và bầu trời hửng sáng, Tôn Giả Ānanda đứng dậy khỏi chỗ ngồi, khoác y lên vai, đứng đối diện Đức Phật, chắp hai tay trước ngực kính lễ Ngài và thưa rằng: “Thưa Đức Phật, đêm đã trôi qua. Canh cuối cùng đã tàn. Bình minh sắp ló dạng và bầu trời hửng sáng. Các vị Tỳ kheo đến viếng đã ngồi đây khá lâu. Xin Đức Phật chào đón các vị ấy.”

Sau đó, Đức Phật ra khỏi thiền và nói với Tôn giả Ānanda: “Ānanda, nếu con biết, thì ngay cả điều đó cũng không nảy ra trong đầu con (để nói).(1) Ta cùng với tất cả 500 vị Tỳ kheo này đã nhập thiền Vô Sắc.”

Rồi Đức Phật trong dịp đó đã thốt lên: Nơi vị đã đánh bại các gai nhọn của năm dục, sỉ nhục, tấn công và giam cầm: Giống như một ngọn núi đứng vững không lay chuyển, vị ấy không run rẩy trước khoái lạc và khổ đau: một vị Tỳ kheo đúng nghĩa.

Ghi chú

1. Tất cả các ấn bản chính ở đây đều ghi là nappaṭibhāseyya: “Người ấy/nó sẽ không nói lại.” Điều này không có nghĩa, vì vậy tôi theo một biến thể ghi trong ấn bản tiếng Miến Điện, là nappaṭibheyya (thể cầu khiến của paṭibhāti).

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud3_3.html

…………….

Ud 3:2 – Kinh Phật Tự Thuyết 3:2

Kinh Nanda

Đức Phật thỏa thuận với người em cùng cha khác mẹ của mình: Hãy ở lại làm Tỳ kheo, và thầy sẽ được ban thưởng các tiên nữ trong kiếp sau.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Dịp đó, Tôn giả Nanda, em trai của Đức Phật, con trai của dì ruột Ngài, đã tuyên bố với một số đông các vị Tỳ kheo: “Tôi không thích sống đời sống thánh thiện, các bạn ạ. Tôi không thể duy trì đời sống thánh thiện được nữa. Từ bỏ việc tu tập, tôi sẽ trở về với đời sống thường nhật.”

Rồi có một vị Tỳ kheo đến gặp Đức Phật, khi đến nơi, sau khi cúi lạy Ngài, ngồi sang một bên, vị ấy nói với Đức Phật: “Thưa Đức Phật, Tôn giả Nanda, em trai của Đức Phật, con trai của dì ruột Ngài, đã tuyên bố với rất nhiều Tỳ kheo rằng: ‘Này các Tỳ kheo, tôi không thích sống đời sống thánh thiện. Tôi không thể tiếp tục sống đời sống thánh thiện được nữa. Tôi sẽ từ bỏ tu tập và trở về đời sống thường nhật.’”

Rồi Đức Phật bảo một vị Tỳ kheo: “Này Tỳ kheo, hãy đến đây. Nhân danh ta, hãy gọi Nanda đến và nói: ‘Đức Phật gọi thầy, thầy Nanda.’”

Vị Tỳ kheo đáp: “Vâng, thưa Đức Phật,” rồi đến gặp Tôn Nanda. Khi đến nơi, vị ấy nói: “Đức Phật gọi thầy, thầy Nanda.”

Tôn giả Nanda đáp lại: “Vâng, tôi sẽ đến”. Khi đến nơi, sau khi cúi lạy Đức Phật, Tôn giả ngồi sang một bên. Đức Phật nói với Tôn giả: “Này Nanda, có đúng là thầy đã nói với rất nhiều Tỳ kheo rằng: ‘Này các bạn, tôi không thích sống đời sống thánh thiện. Tôi không thể duy trì đời sống thánh thiện được nữa. Tôi sẽ từ bỏ tu tập và trở về với đời sống thường nhật’?”

“Vâng, thưa Đức Phật.”

“Nhưng Nanda, tại sao thầy lại không thích sống đời sống thánh thiện? Tại sao thầy không thể duy trì đời sống thánh thiện? Tại sao thầy muốn từ bỏ tu tập và trở về với đời sống thường nhật?”

 “Thưa Đức Phật, khi con rời nhà, một cô gái Sakya, người đẹp nhất vùng quê , mái tóc chưa chải xong, ngước nhìn con và nói: ‘Chàng ơi, hãy mau về.’ Nhớ lại chuyện đó, con không thích sống đời sống thánh thiện. Con không thể duy trì đời sống thánh thiện được nữa. Con sẽ từ bỏ tu tập và trở về với đời sống thường nhật.”

Rồi Đức Phật nắm lấy cánh tay Nanda, như một người đàn ông mạnh mẽ có thể co duỗi cánh tay, biến mất khỏi khu rừng Jeta và hiện ra giữa các vị thiên ở cõi trời Ba mươi ba [Tāvatiṁsa]. Vào dịp đó, khoảng 500 tiên nữ có chân như thân bồ câu đang đứng chờ thiên chủ Sakka, vua của chư thiên. Đức Phật nói với Tôn giả Nanda: “Nanda, con có thấy 500 tiên nữ có chân (đẹp) như (thân) bồ câu này không?”

 “Vâng, thưa Đức Phật.”

“Con nghĩ sao, Nanda? cô gái Sakya, người được cả vùng quê ghen tỵ, hay 500 nàng tiên nữ chân bồ câu này, ai xinh đẹp hơn, ưa nhìn hơn, quyến rũ hơn?”

“Thưa Đức Phật, so với 500 nàng tiên nữ chân bồ câu này, cô gái Sakya, người mà cả vùng quê phải ghen tị, chỉ như một con khỉ bị cháy. Nàng không sánh được. Nàng thậm chí không bằng một góc nhỏ. Không thể so sánh được. 500 vị tiên nữ chân bồ câu xinh đẹp hơn, ưa nhìn hơn, quyến rũ hơn.”

 “Vậy thì hãy vui lên, Nanda. Hãy vui lên! Ta bảo đảm cho con có được 500 nàng tiên nữ chân bồ câu.”

“Nếu Đức Phật bảo đảm cho con có được 500 vị tiên nữ chân bồ câu, con sẽ vui vẻ sống đời sống thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Đức Phật.”

Rồi Đức Phật nắm lấy cánh tay Tôn giả Nanda, như một người đàn ông mạnh mẽ có thể co duỗi cánh tay, biến mất khỏi cõi trời Ba mươi ba và hiện ra ở khu rừng Jeta. Các vị Tỳ kheo nghe nói: “Họ kể rằng Tôn giả Nanda, em trai của Đức Phật, con trai của dì ruột Ngài, đang sống đời sống thánh thiện vì các nàng tiên nữ. Họ nói rằng Đức Phật là người bảo đảm cho vị ấy có được 500 vị tiên nữ có chân bồ câu.”

Rồi các vị Tỳ kheo là bạn đồng tu của Tôn giả Nanda đi khắp nơi, nói về vị ấy như thể là một người được thuê mới chịu tu và là một người bị mua chuộc: “Họ kể rằng Tôn giả Nanda đã được thuê mới chịu tu. Họ kể rằng Tôn giả Nanda đã bị mua chuộc (1). Thầy ấy đang sống đời sống thánh thiện vì các nàng tiên nữ. Đức Phật là người bảo đảm cho thầy ấy có được 500 nàng tiên nữ chân bồ câu.”

Rồi Tôn giả Nanda tự cảm thấy nhục nhã, xấu hổ và sỉ nhục vì các vị Tỳ kheo là bạn đồng tu của mình nói về mình như thể là một người được thuê mới chịu tu và là một người bị mua chuộc, nên đã lui về sống ẩn dật một mình, cẩn trọng, sốt sắng và kiên quyết. Chẳng bao lâu sau, vị ấy đã nhập định và an trú trong mục tiêu tối thượng của đời sống thánh thiện mà các thành viên trong dòng tộc đã rời bỏ nhà cửa để sống đời sống vô gia cư, thấu hiểu và nhận ra điều đó ngay trong hiện tại. Vị ấy biết rằng: “Sinh đã tận, đời sống thánh thiện đã hoàn thành, nhiệm vụ đã làm xong. Không còn phải làm gì nữa nơi thế gian này.” Và như vậy, Tôn giả Nanda đã trở thành một trong những vị Arahant.

Rồi một vị thiên, vào đêm muộn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn bộ khu rừng Jeta, đến gặp Đức Phật. Khi đến nơi, sau khi cúi lạy Ngài, vị ấy đứng sang một bên. Vị thiên nói với Đức Phật: “Thưa Đức Phật, Tôn giả Nanda, em trai của Đức Phật, con trai của dì ruột Ngài, nhờ diệt trừ các phiền não, đã nhập và an trú trong giải thoát không phiền não và giải thoát phân biệt, trực tiếp biết và thấy được chúng ngay tại đây và bây giờ.”

Và tri kiến này xuất hiện nơi Đức Phật: “Nanda, nhờ diệt trừ các phiền não, đã nhập và an trú trong giải thoát không phiền não và giải thoát phân biệt, trực tiếp biết và thấy được chúng ngay tại đây và bây giờ.”

Rồi khi đêm trôi qua, tôn giả Nanda đến gặp Đức Phật. Sau khi cúi lạy Ngài, ngồi sang một bên, tôn giả thưa với Đức Phật: “Thưa Đức Phật, về việc Đức Phật bảo lãnh cho con có được 500 vị tiên nữ chân bồ câu: Con xin miễn trừ Đức Phật khỏi lời hứa đó.”

 “Nanda, khi dùng tâm thấu hiểu tâm thức của thầy, Ta nhận ra rằng ‘Nanda, nhờ sự diệt trừ các phiền não, đã nhập và an trú trong trạng thái giải thoát không phiền não và giải thoát phân biệt, trực tiếp biết và nhận ra chúng cho chính mình ngay tại đây và bây giờ.’ Và một vị thiên đã cho Ta biết rằng ‘Tôn giả Nanda, nhờ sự diệt trừ các phiền não, đã nhập và an trú trong trạng thái giải thoát không phiền não và giải thoát phân biệt, trực tiếp biết và nhận ra chúng cho chính mình ngay tại đây và bây giờ.’ Khi tâm của thầy, nhờ sự không chấp trước, đã được giải thoát khỏi các phiền não, thì Ta cũng được giải thoát khỏi lời hứa đó.”

Đức Phật vào dịp đó đã thốt lên: Nơi người đã vượt qua vũng lầy năm dục,(2) gai năm dục đã bị nghiền nát, thì vị ấy chấm dứt vô minh: Vị ấy không run rẩy vì khoái lạc và khổ đau: một vị Tỳ kheo đúng nghĩa.

Ghi chú

1. Các vị Tỳ kheo ở đây gọi Tôn giả Nanda là “āyasmant”. Theo DN 16, các thầy Tỳ Kheo thường không xưng hô với nhau theo cách trang trọng này khi Đức Phật còn sống. Do đó, có một yếu tố mỉa mai trong cách họ sử dụng thuật ngữ này ở đây.

2. Bản tiếng Thái ghi là yassa tiṇṇo kāmapaṅko. Các bản tiếng Miến Điện, Sri Lanka và PTS ghi là yassa nittiṇṇo paṅko: “Nơi người mà vũng lầy đã bị vượt qua”. Đoạn văn tương tự trong Udānavarga (32.2) về cơ bản giống với ý thứ 2.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud3_2.html

………………………

Ud 3:1  - Kinh Phật Tự Thuyết 3:1

Kinh Nghiệp

Một vị Tỳ kheo thiền định trong nỗi đau do nghiệp quá khứ sinh ra nhưng không bị nghiệp ấy đánh gục.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Vào dịp đó, có một vị Tỳ kheo ngồi không xa Đức Phật, ngồi xếp bằng, thẳng lưng, chịu đựng những cơn đau dữ dội, sắc nhọn và nghiêm trọng, là kết quả của nghiệp cũ, nhưng vị ấy chánh niệm, tỉnh giác, không lấy làm đau khổ. Đức Phật thấy vị ấy ngồi không xa, chân xếp bằng, thẳng lưng, chịu đựng những cơn đau dữ dội, sắc nhọn và nghiêm trọng, là kết quả của nghiệp cũ, nhưng vị ấy tỉnh thức, cảnh giác, và không bị nghiệp ấy đánh gục.

Khi nhận thấy như vậy, Đức Phật đã thốt lên: Đối với vị Tỳ kheo đã bỏ lại tất cả nghiệp chướng phía sau, rũ bỏ bụi trần của quá khứ, vững vàng, không sở hữu, người đạt được như vậy:(1) thì không cần phải nói gì nữa.

Ghi chú

1. Như vậy (tādin): Một tính từ được áp dụng cho tâm của người đã đạt được mục tiêu. Nó chỉ ra rằng tâm “là chính nó” – không thể diễn tả được nhưng không thể thay đổi hay biến đổi.

Xem thêm: SN 41:3; AN 8:30; Thag 6:10

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud3_1.html


Comments

Popular posts from this blog