UDANA 2

Kinh Phật Tự Thuyết Phẩm 2

Ud 2:10  - Kinh Phật Tự Thuyết 2:10

Kinh Kāḷigodha

Một vị vua trước đây, nay là một vị sư, thốt lên về niềm hạnh phúc của sự cô độc tĩnh lặng.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Anupiyā trong Vườn Xoài. Vào dịp đó, Tôn giả Bhaddiya, con trai của Kāḷigodhā, khi đi vào nơi hoang vắng, đến gốc cây, hoặc đến một ngôi nhà vắng đều liên tục thốt lên: “Thật hạnh phúc! Thật hạnh phúc!”

Rất nhiều vị sư đã nghe Tôn giả Bhaddiya khi đi vào nơi hoang vắng, đến gốc cây, hoặc đến một ngôi nhà vắng đều liên tục thốt lên: “Thật hạnh phúc! Thật hạnh phúc!” Nghe vậy, họ chợt nghĩ: “Không còn nghi ngờ gì nữa, Tôn giả Bhaddiya, con trai của Kāḷigodhā, không thích sống đời sống thánh thiện, bởi vì khi còn là cư sĩ, thầy ấy đã biết được niềm hạnh phúc của vương quyền, nên giờ đây khi nhớ lại điều đó, mỗi khi đi vào hoang mạc, đến gốc cây, hay đến một ngôi nhà vắng, thầy ấy đều thốt lên: ‘Thật hạnh phúc! Thật hạnh phúc!’”

Vì vậy, họ đến gặp Đức Phật, sau khi cúi lạy Ngài, họ ngồi sang một bên. Họ nói với Ngài: “Tôn giả Bhaddiya, con trai của Kāḷigodhā, mỗi khi đi vào hoang mạc, đến gốc cây, hay đến một nơi ngôi nhà vắng đều liên tục thốt lên: ‘Thật hạnh phúc! Thật hạnh phúc!’ Chắc chắn rằng Tôn giả Bhaddiya không thích sống đời sống thánh thiện, bởi vì khi còn là cư sĩ, thầy ấy đã biết được niềm hạnh phúc của vương quyền nên giờ đây khi nhớ lại điều đó, mỗi khi đi vào hoang mạc, đến gốc cây, hay đến một ngôi nhà vắng, thầy ấy đều liên tục thốt lên: ‘Thật hạnh phúc! Thật hạnh phúc!’”

Rồi Đức Phật bảo một vị Tỳ kheo nọ: “Này Tỳ kheo, hãy đến đây. Nhân danh ta, hãy gọi Bhaddiya, và nói: ‘Đức Phật cho gọi thầy Bhaddiya.’”

Vị Tỳ kheo ấy đáp lại Đức Phật: “Vâng, thưa Đức Phật,” rồi đến gặp Tôn giả Bhaddiya. Khi đến nơi vị ấy nói: “Đức Phật cho gọi thầy Bhaddiya.”

Tôn giả Bhaddiya đáp lại: “Vâng, tôi làm theo lời thầy,” rồi Tôn giả đến gặp Đức Phật, cúi lạy Ngài và ngồi sang một bên. Đức Phật nói với Tôn Giả: “Bhaddiya , có đúng là khi đi vào hoang mạc, đến gốc cây, hoặc đến một ngôi nhà vắng, thầy cứ liên tục thốt lên: ‘Thật hạnh phúc! Thật hạnh phúc!’?”

“Vâng, thưa Đức Phật.”

 “Vì lý do gì mà khi đi vào hoang mạc, đến gốc cây, hoặc đến một ngôi nhà vắng thầy cứ liên tục thốt lên: ‘Thật hạnh phúc! Thật hạnh phúc!’?”

 “Thưa Đức Phật, trước đây, khi còn là một gia chủ, con sống trong vương quyền,(1) con có lính canh gác bên trong và bên ngoài cung điện, bên trong và bên ngoài thành phố, bên trong và bên ngoài vùng nông thôn xa xôi. Nhưng dù được canh gác, được bảo vệ như vậy, con  vẫn sống trong sợ hãi, bồn chồn, nghi ngờ và e sợ. Còn bây giờ, khi một mình đi vào hoang mạc, đến gốc cây, hoặc đến một ngôi nhà vắng, con sống không sợ hãi, không bồn chồn, tự tin và không e sợ, không lo lắng, không xao động, sống nhờ sự cho tặng, bố thí của người khác, tâm con như một con nai rừng. Đây là điều mà con luôn nghĩ đến khi đi vào hoang mạc, đến gốc cây hoặc đến một ngôi nhà vắng, nên con liên tục thốt lên: ‘Thật hạnh phúc! Thật hạnh phúc!’”

Rồi lúc ấy, Đức Phật đã thốt lên: “Từ trong lòng không có sự khiêu khích, và đối với người mà sự tái sinh và không tái sinh đều đã vượt qua, người ấy vượt lên trên nỗi sợ hãi, hạnh phúc, không phiền não, là người mà chư thiên không thể nhìn thấy dấu vết.”

Lưu ý

1. Các bản tiếng Thái và PTS (Pali Text Society) ghi là rajja-sukhaṁ. Các bản tiếng Sri Lanka và Miến Điện ghi là rajjaṁ: “vương quyền”.

Xem thêm: SN 1:10; AN 3:35; AN 11:10; Thag 1:14; Thag 1:41; Thag 1:49; Thag 18

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_10.html

 

……………..

Ud 2:9 – Kinh Phật Tự Thuyết 2:9

Kinh Visākhā

Những bất lợi khi phải giao dịch với vua chúa.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại Tu viện phía Đông, tu viện của mẹ Migāra.(1) Và vào dịp đó, bà Visākhā, mẹ của Migāra, có một số giao dịch với Vua Pasenadi Kosala mà nhà vua không giải quyết như bà mong muốn. Vì vậy, giữa trưa bà đến gặp Đức Phật. Sau khi cúi lạy Ngài, bà ngồi sang một bên. Đức Phật nói với bà: “Này Visākhā, con từ đâu đến giữa trưa vậy?”

 “Thưa Đức Phật, vừa rồi con có một số giao dịch với Vua Pasenadi Kosala mà nhà vua không giải quyết như con mong muốn.”

Sau đó, Đức Phật đã nói:

Mọi sự lệ thuộc vào người khác đều gây đau khổ. Mọi sự độc lập đều mang lại hạnh phúc. Cái gì thuộc về chung, cộng đồng sẽ mang lại khổ đau, vì bổn phận khó mà hoàn thành được.

Ghi chú

1. Theo Chú giải, Visākhā thực ra là con dâu (0 phải con gái) của Migāra, nhưng vì bà đã giới thiệu Phật pháp cho ông, nên bà được gọi là mẹ của ông.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_9.html

………………….

Ud 2:8 – Kinh Phật Tự Thuyết 2:8 – Kinh Suppavāsā  Sutta

Sau thời gian mang thai dài và chuyển dạ khó khăn, Suppavāsā cúng dường trai tăng đến Đức Phật và Tăng đoàn.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Kuṇḍiya, trong rừng Kuṇḍiṭṭhāna. Vào dịp đó, Suppavāsā, con gái của Koliyan, đã mang thai bảy năm và đang chuyển dạ khó khăn trong bảy ngày mà chưa sinh con được. Nàng chịu đựng những cơn đau dữ dội, nhói buốt và có ba suy nghĩ: “Đức Phật thật sự giác ngộ khi từ bỏ loại khổ đau này mà giảng dạy Chánh pháp! Tộc đệ tử của Đức Phật thật sự tu tập tốt khi từ bỏ loại khổ đau này! Sự giải thoát thật sự hạnh phúc biết bao khi không còn loại khổ đau này!”

Rồi Suppavāsā nói với chồng: “Chàng ơi, hãy đến gặp Đức Phật,  nhân danh em cúi đầu phủ phục dưới chân Ngài, hỏi xem Ngài có thoát khỏi bệnh tật và phiền não không, có an lạc, mạnh khỏe và sống sung túc không, rồi nói rằng: ‘Suppavāsā, con gái của Koliyan, kính cẩn cúi đầu phủ phục dưới chân Ngài và hỏi Ngài có thoát khỏi bệnh tật và phiền não không, có an lạc, mạnh khỏe và sống sung túc không.’ Và hãy nói thêm rằng: ‘Suppavāsā đã mang thai bảy năm và chuyển dạ khó nhọc trong bảy ngày mà chưa sinh được. Nàng chịu đựng những cơn đau dữ dội, nhói buốt và có ba suy nghĩ: “Đức Phật thật sự giác ngộ khi từ bỏ loại khổ đau này mà giảng dạy Chánh pháp! Tộc đệ tử của Đức Phật thật sự tu tập tốt khi từ bỏ loại khổ đau này! Sự giải thoát thật sự hạnh phúc biết bao khi không còn loại khổ đau này!”

Chồng nàng đáp lại “Thật tuyệt vời!” rồi đi đến gặp Đức Phật. Khi đến nơi, chàng cúi lạy Đức Phật rồi ngồi sang một bên và thưa với Đức Phật mọi việc như lời người vợ nói.

 [Đức Phật nói:] “Cầu mong Suppavāsā, con gái của dòng họ Koliyan, được khỏe mạnh và không còn đau bệnh. Và cầu mong nàng sinh được một người con trai khoẻ mạnh không bệnh tật.” Ngay lúc Đức Phật nói, nàng Suppavāsā được khỏe mạnh, không còn đau bệnh, hạ sinh được một người con trai khoẻ mạnh.

Người chồng thưa: “ Thật tốt lành, thưa Đức Phật,” chàng vui mừng và đón nhận lời của Đức Phật, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi lạy Đức Phật và đi vòng sang bên phải Ngài trở về nhà. Anh ta thấy rằng vợ mình được khỏe mạnh và không còn đau bệnh tật, đã sinh được một người con trai khoẻ mạnh. Khi chứng kiến ​​điều này, chàng chợt nghĩ: “Thật kỳ diệu! Thật kinh ngạc! – Sức mạnh vĩ đại của Như Lai, quyền năng to lớn ở chỗ ngay khi Ngài  phán như vậy thì Suppavāsā đã khỏe mạnh và không còn đau bệnh, sinh được một người con trai khoẻ mạnh!” Vui mừng khôn xiết, chàng hân hoan, phấn khởi và hạnh phúc.

Rồi Suppavāsā nói với chồng mình: “Chàng ơi, hãy đến gặp Đức Phật, nhân danh em cúi đầu lạy chân Ngài và nói rằng: ‘Suppavāsā xin cúi đầu lạy chân Ngài. Nàng đã mang thai bảy năm và trải qua bảy ngày chuyển dạ khó nhọc, nay đã sinh được một con trai khỏe mạnh và không bệnh tật. Nàng mời Tăng đoàn, đứng đầu là Đức Phật, đến dự trai tăng bảy ngày. Nguyện xin Đức Phật cùng với Tăng đoàn chấp thuận.’”

Chồng nàng đáp: “Thật tuyệt vời!”, rồi chàng đến gặp Đức Phật , thay mặt nàng đảnh lễ Phật và thỉnh mời Ngài cùng Tăng đoàn đến dự trai tăng 7 ngày như lời người vợ nói.

Bấy giờ, cũng có một vị cư sĩ nọ mời Tăng đoàn, đứng đầu là Đức Phật, đến dự bữa trai tăng vào ngày hôm sau. Vị cư sĩ ấy là một tín đồ của Tôn giả Mahā Moggallāna. Đức Phật bảo Tôn giả Mahā Moggallāna: “Này Moggallāna, hãy đến gặp vị cư sĩ ấy, nói với ông ta rằng: ‘Suppavāsā, con gái của dòng họ Koliyan, người đã mang thai bảy năm và trải qua bảy ngày chuyển dạ khó nhọc, nay đã sinh một con trai khỏe mạnh và không bệnh tật. Nàng đã mời Tăng đoàn, đứng đầu là Đức Phật, đến dự trai tăng trong bảy ngày. Hãy để Suppavāsā cúng dường trong bảy ngày rồi sau đó, đến lượt ông cúng dường trai tăng’. Ông ta là tín đồ của con.”

Tôn giả Moggallāna đáp lại Đức Phật, “Vâng, thưa Đức Phật,” rồi ngài ấy đến gặp vị cư sĩ nói với ông ta những lời như Phật dạy.

Ông đáp: “Thưa Tôn giả Moggallāna, nếu Tôn giả bảo đảm cho con ba điều: tài sản, tính mạng và đức tin, thì hãy để Suppavāsā cúng dường trai tăng bảy ngày rồi sau đó đến lượt con.”

“Này con, ta sẽ bảo đảm cho con hai điều: tài sản và tính mạng. Còn đức tin của chính con thì chỉ có con mới bảo đảm được.”

 “Thưa Tôn giả Moggallāna , nếu ngài bảo đảm cho con hai điều: tài sản và tính mạng, thì xin để Suppavāsā cúng dường bảy ngày trai tăng rồi sau đó, con sẽ lo phần của mình.”

Rồi Tôn giả Moggallāna, sau khi đã nói chuyện với vị cư sĩ, đến gặp Đức Phật và thưa rằng: “Thưa Đức Phật, vị cư sĩ đã đồng ý. Xin hãy để cho Suppavāsā cúng dường bảy ngày trai tăng rồi sau đó, ông ấy sẽ lo phần của mình.”

Vậy là trong bảy ngày, Suppavāsā, tự tay phục vụ trai tăng và làm hài lòng Tăng đoàn, đứng đầu là Đức Phật với những món ăn chính và phụ hảo hạng. Nàng đã dạy đứa trẻ thể hiện lòng kính trọng đối với Đức Phật và Tăng đoàn. Sau đó, Tôn giả Sāriputta nói với đứa trẻ: “Này con, ta tin rằng mọi việc con đều có thể chịu đựng được, mọi việc đều thoải mái với con. Ta tin rằng con không có đau khổ.”

 “Thưa Tôn giả Sāriputta, con phải sống bảy năm trong bụng mẹ đầy máu, vậy thì có thể chịu đựng được mọi thứ, có thể sống thoải mái ở mọi nơi”(1)

Nàng Suppavāsā (nghĩ,) “Con trai ta đang trò chuyện với vị Đại Tướng Quân Chánh Pháp!” cảm thấy mãn nguyện, vui mừng, hân hoan và hạnh phúc.

 Đức Phật, biết rằng Suppavāsā đang hài lòng, vui mừng, hân hoan và hạnh phúc, liền hỏi bà: “Suppavāsā, con có muốn có thêm một người con trai như thế này nữa không?”

“Thưa Đức Phật (2), con muốn có thêm bảy người con trai như thế này nữa!”

Đức Phật lúc ấy đã nói:

Điều khó chịu với vẻ ngoài dễ chịu, điều không đáng yêu với vẻ ngoài đáng yêu, nỗi đau với vẻ ngoài hạnh phúc chế ngự kẻ bất cẩn.

Ghi chú

1. Bản tiếng Thái ghi là lohita-kucchiyā. Còn bản Chú giải ghi là lohita-kumbhiyā, trong một bình máu. Bản Chú giải nói rằng con trai của Suppavāsā sau này trở thành vị Arahant nổi tiếng, Sīvalin, người mà Đức Phật tuyên bố là người đứng đầu trong số các đệ tử của Ngài về việc nhận (được nhiều) lễ vật.

2. Bản tiếng Thái ghi là bhante Bhagavā. Cách xưng hô cực đoan này với Đức Phật cũng xuất hiện trong Ud 8:7. Các bản tiếng Sri Lanka và Miến Điện chỉ ghi đơn giản là Bhagavā.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_8.html

…………………

Jan 09, 2026

Ud 2:7 – Kinh Phật Tự Thuyết

Kinh Ekaputta (Kinh Con Trai Duy Nhất)

Nỗi đau buồn khi mất đi những người thân yêu.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Vào dịp đó, người con trai duy nhất yêu quý của một cư sĩ nọ đã qua đời. Vì vậy, một số lượng lớn cư sĩ với quần áo ướt, tóc ướt (do vừa hoả táng thi hài) đã đến gặp Đức Phật vào giữa trưa. Khi đến nơi, sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi sang một bên. Đức Phật hỏi họ: “Tại sao các vị lại đến đây với quần áo ướt, tóc ướt vào giữa trưa?”

Nghe vậy, người cư sĩ thưa với Đức Phật: “Thưa Đức Phật, con trai duy nhất yêu quý của con đã qua đời. Đó là lý do tại sao chúng con đến đây với quần áo ướt, tóc ướt vào giữa trưa.”

Rồi Đức Phật vào dịp ấy đã thốt lên: Bị trói buộc bởi sự quyến rũ của những gì có vẻ thân yêu,(1) vô số chư thiên, hầu hết loài người bị kiệt sức vì khổ đau, đều rơi vào sự chi phối của Thần Chết.

Còn những ai, ngày đêm, cẩn thận từ bỏ những gì có vẻ thân yêu, sẽ đào tận gốc rễ khổ đau, là cạm bẫy khó vượt qua của Tử Thần.

Ghi chú

1. Theo sau cách đọc, piyarūpassāda-gaddhitāse trong các ấn bản tiếng Thái, tiếng Miến Điện và tiếng Phật giáo. Ấn bản tiếng Sri Lanka có sẵn từ Tạp chí Đạo đức Phật giáo có, piyarūpa-sātarūpa-gaddhitā ye: “Những người bị trói buộc bởi những gì có vẻ thân thuộc và những gì có vẻ dễ chịu”; ấn bản tiếng Bồ Đào Nha, piyarūpāsāta-gaddhitā ve: “Thực sự bị trói buộc bởi những gì có vẻ thân thuộc và những gì khó chịu.” Đoạn văn tương ứng trong Udānavarga (5.10) có nội dung: priyarūpa-sāta-grathitā: “Bị trói buộc bởi những gì có vẻ thân thương và dễ chịu.”

Xem thêm: MN 87, SN 42:11, Ud 2:8, Ud 8:8

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_7.html

………………..

Ud 2:6 – Kinh Phật Tự Thuyết 2:6

Kinh Gabbhinin | Người phụ nữ mang thai

Những bất lợi khác của việc sở hữu

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Và vào dịp đó, người vợ trẻ của một vị lữ khách nọ đang mang thai và sắp sinh. Vì vậy, nàng nói với vị lữ khách: “Này bà la môn, hãy đi lấy một ít dầu cho việc sinh nở của tôi.”

Nghe vậy, vị lữ khách nói với nàng: “Nhưng tôi có thể lấy dầu ở đâu?” Lần thứ hai, nàng nói với ông: “Này bà la môn, hãy đi lấy một ít dầu cho việc sinh nở của tôi.” Lần thứ hai, ông lại nói với nàng: “Nhưng tôi có thể lấy dầu ở đâu?”

Lần thứ ba, nàng nói với ông: “Này bà la môn, hãy đi lấy một ít dầu cho việc sinh nở của tôi.”

Vào dịp đó, tại kho của vua Pasenadi Kosala, các vị tu hành và Bà la môn được phát dầu hoặc bơ để uống tùy thích nhưng không được mang đi. Vì vậy, vị lữ khách nghĩ: “Hiện nay tại kho của vua Pasenadi Kosala, các vị tu hành và Bà la môn được phát dầu hoặc bơ để uống tùy thích nhưng không được mang đi. Hay là khi đến đó, ta uống lượng dầu cần thiết và khi trở về nhà, nôn ra cho vợ ta dùng khi sinh?”

Vì vậy, khi đến kho của vua Pasenadi Kosala, ông đã uống lượng dầu cần thiết nhưng khi trở về nhà, không thể nôn ra hay tiêu hóa được. Ông lăn lộn, chịu đựng những cơn đau dữ dội, nhói buốt. Rồi sáng sớm hôm sau, Đức Phật chỉnh lại y áo trong và mang theo bát khất thực cùng y ngoài, đi vào Sāvatthī để khất thực. Ngài thấy người lữ khách lăn lộn, đau đớn dữ dội.

Khi ấy Đức Phật thốt lên: Thật hạnh phúc biết bao cho người không có gì. Những người đạt được trí tuệ là những người không có gì. Hãy nhìn người ấy đang đau khổ, một người có chút của cải, một người tâm bị ràng buộc với người khác.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_6.html

…………………..

Ud 2:5 – Kinh Phật Tự Thuyết 2:5

Kinh Upāsaka | Người cư sĩ

Những bất lợi của việc sở hữu.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Nhân dịp đó, một cư sĩ từ Icchānaṅgalaka đến Sāvatthī để giải quyết công việc. Sau khi giải quyết xong công việc ở Sāvatthī, ông đến gặp Đức Phật và khi đến nơi, sau khi đảnh lễ Ngài, ông ngồi sang một bên. Đức Phật nói với ông: “Cuối cùng con cũng đã đến được đây.”

“Thưa Đức Phật, từ lâu con đã muốn đến gặp Đức Phật, nhưng vì bận rộn hết việc này đến việc khác, con chưa thể đến được.”

Rồi Đức Phật lúc ấy đã thốt lên: “Thật hạnh phúc biết bao, người nào không có gì mà được giác ngộ Chánh pháp thì là người hiểu biết. Còn người nào có của cải mà thân lại bị ràng buộc với người khác thì lại là người đau khổ.”

Xem thêm:Kinh Pháp Cú Dhp 200, 221, 396, 421

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_5.html

………………….

Ud 2:4 Sự tôn kính (Kinh Sakkāra) – Kinh Phật Tự Thuyết 2:4

Về cách đối phó với lời lẽ xúc phạm.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Và trong dịp đó, Đức Phật được thờ phụng, tôn kính, vinh danh, đảnh lễ và được dâng lễ vật – được cúng dường y áo, thức ăn, chỗ ở và thuốc men khi có bệnh. Tăng đoàn cũng được thờ phụng, tôn kính, vinh danh, đảnh lễ và được dâng lễ vật – được cúng dường y áo, thức ăn, chỗ ở và thuốc men khi có bệnh.

Còn những du sỹ của các giáo phái khác không được thờ phụng, tôn kính, kính trọng, vinh danh hay đảnh lễ; họ cũng không được cúng dường y phục, thức ăn, chỗ ở hay thuốc men khi có bệnh. Vì vậy, những người du sỹ thuộc các giáo phái khác không thể chịu đựng được sự tôn kính dành cho Đức Phật và Tăng đoàn. Khi thấy các Tỳ Kheo ở làng mạc hay nơi hoang vắng, họ đã lăng mạ, chửi rủa, làm phiền và quấy rối các vị Tỳ Kheo bằng những lời lẽ bất lịch sự và thô tục.

Rồi một số đông các thầy Tỳ Kheo đến gặp Đức Phật, và khi đến nơi, sau khi cúi lạy Ngài, họ ngồi sang một bên. Khi đang ngồi đó, họ kể với Ngài sự việc như trên. Khi nghe như vậy, Đức Phật đã thốt lên: Khi tiếp xúc với niềm vui hay nỗi buồn trong làng mạc hay nơi hoang vắng, đừng coi đó là những lời dành cho mình hay của người khác.

Khi coi đó là lời dành cho mình thì sẽ phát sinh sự tiếp xúc, bức xúc. Khi không coi đó là những lời dành cho mình, thì sự tiếp xúc, bức xúc nằm ở đâu?

Xem thêm: DN 21; MN 28

See also: DN 21; MN 28

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_4.html

…………………..

Ud 2:3 Kinh Cây Gậy (Daṇḍa Sutta) – Kinh Phật Tự Thuyết 2:3

Bài học cho các bé trai: Nếu không muốn chịu đau khổ, đừng gây đau khổ cho chúng sinh khác.

Tôi nghe như vầy, có lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Vào dịp đó, một số đông các bé trai trên con đường giữa Sāvatthī và khu rừng Jeta đang dùng gậy đánh một con rắn. Vào sáng sớm, Đức Phật chỉnh lại y áo, mang theo bát khất thực và y ngoài, rồi vào Sāvatthī khất thực. Ngài thấy rất đông bé trai trên con đường giữa Sāvatthī và khu rừng Jeta đang dùng gậy đánh con rắn.

Rồi lúc ấy Đức Phật đã thốt lên: Ai dùng gậy đánh chúng sinh đang mong muốn sự an lạc, trong khi chính mình cũng đang tìm kiếm sự an lạc, thì sau khi chết sẽ không gặp được sự an lạc.

Ai không dùng gậy đánh những chúng sinh đang mong muốn sự an lạc, trong khi chính mình cũng đang tìm kiếm sự an lạc, thì sau khi chết sẽ gặp được sự an lạc. (1)

Ghi chú

1. Những câu này giống với Kinh Pháp Cú Dhp 131—132.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_3.html

…………………….

Ud 2:2 - Kinh Phật Tự Thuyết 2: 2 - Rājā Sutta | Kinh Các Vị Vua

Khi các vị tỳ kheo tụ họp, họ không nên dành thời gian bàn tán về các vị vua.

Tôi nghe như vầy, có một lần Đức Phật ở gần Sāvatthī tại khu rừng Jeta, tu viện của ông Cấp Cô Độc Anāthapiṇḍika. Và vào dịp đó, một số đông các vị tỳ kheo, sau bữa ăn, trên đường đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong hội quán thì cuộc thảo luận này nảy sinh: “Này các bạn, trong hai vị vua này, vị vua nào giàu có hơn, sở hữu nhiều hơn, kho bạc lớn hơn, lãnh thổ rộng lớn hơn, voi ngựa nhiều hơn, quân đội đông hơn, quyền lực lớn hơn, hùng mạnh hơn: Vua Seniya Bimbisāra của Magadha hay Vua Pasenadi của Kosala?” Và cuộc thảo luận này không đi đến hồi kết.

Rồi Đức Phật, ra khỏi nơi ẩn cư vào cuối buổi chiều, đi đến hội trường và khi đến nơi, ngồi xuống một chỗ ngồi đã được bày sẵn. Ngồi xuống, Ngài nói với các vị tỳ kheo: “Các thầy  đang tụ họp ở đây vì chủ đề gì? Và đang bàn về việc gì mà không đi đến hồi kết?”

 “Thưa Đức Phật, vừa nãy, sau bữa ăn, trên đường đi khất thực về, chúng con đang ngồi tụ họp ở hội trường này thì nảy sinh cuộc thảo luận: ‘Này các bạn, trong hai vị vua này, vị vua nào giàu có hơn, sở hữu nhiều hơn, kho bạc lớn hơn, lãnh thổ rộng lớn hơn, voi ngựa nhiều hơn, quân đội đông hơn, quyền lực lớn hơn, hùng mạnh hơn: Vua Seniya Bimbisāra của Magadha hay Vua Pasenadi của Kosala?’ Đây là cuộc thảo luận đã không đi đến hồi kết  khi Đức Phật đến.”

“Này các Tỳ kheo, thật là không đúng khi con cái của những gia đình tử tế, sau khi rời bỏ gia đình vì đức tin mà sống đời vô gia cư, lại bàn về chủ đề như vậy. Khi tụ họp lại, các thầy có hai bổn phận: hoặc nói về Chánh pháp hoặc im lặng thánh thiện.”(1)

Rồi Đức Phật trong dịp ấy đã thốt lên: Bất kỳ hạnh phúc năm dục nào trên thế gian, trên cõi thiên, cũng không bằng một phần mười sáu của một phần mười sáu so với hạnh phúc khi chấm dứt tham ái.

Ghi chú

1. SN 21:1 coi im lặng thánh thiện tương đương với tầng thiền thứ hai (Nhị Thiền). Điều này dường như liên quan đến việc tư duy có định hướng và đánh giá, mà MN 44 xác định là những lời bịa đặt, được từ bỏ khi chuyển từ tầng thiền thứ nhất sang tầng thiền thứ hai.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_2.html

………………

Jan 08, 2026

Kinh Phật Tự Thuyết – Phẩm 2 : Muccalinda

Ud 2:1 – Kinh Phật Tự Thuyết 2:1

Kinh Muccalinda | Muccalinda

Ngay sau khi Đức Phật giác ngộ, rắn thần Naga đã che cho Ngài khỏi một cơn bão.

Tôi nghe như vầy, có một lần, Đức Phật đang ở Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā dưới gốc cây Muccalinda (cây lộc vừng), vừa mới giác ngộ. Và vào dịp đó, Ngài ngồi thiền bảy ngày liền, cảm nhận được niềm hoan lạc của sự giải thoát.

Lúc đó, một đám mây giông lớn trái mùa nổi lên, mang theo bảy ngày mưa lớn và gió lạnh, bóng tối dày đặc. Rồi Muccalinda, vua rắn thần Naga rời khỏi nơi ở của mình và dùng thân của mình quây quanh Đức Phật bảy vòng, dùng chiếc đầu lớn che mưa cho Đức Phật, (nghĩ rằng): “Đừng để Đức Phật bị quấy rầy bởi cái lạnh. Đừng để Đức Phật bị quấy rầy bởi cái nóng. Đừng để Đức Phật bị quấy rầy bởi ruồi, muỗi, gió, mặt trời và các loài bò sát.”

Rồi sau bảy ngày, Đức Phật ra khỏi trạng thái thiền định đó. Muccalinda, vua rắn thần, nhận thấy bầu trời đã quang đãng và không còn mây, liền gỡ thân mình ra khỏi Đức Phật, biến  thành một thanh niên, đứng trước Đức Phật chắp tay đảnh lễ.

Rồi, khi nhận thấy điều đó, Đức Phật thốt lên: “Hạnh phúc thay là sự cô độc cho người bằng lòng biết đủ, người đã nghe được Chánh pháp, người thấy thấu suốt. Hạnh phúc là không phiền não với thế gian, kiềm chế đối với chúng sinh. Hạnh phúc là vô tư, bình thản với thế gian, vượt qua năm dục.

Nhưng việc chế ngự tính kiêu ngạo “Ta là”(1) – Đó mới thực sự là hạnh phúc tối thượng.

Ghi chú 1. Xem Ud 1:1, ghi chú 3.

https://www.dhammatalks.org/suttas/KN/Ud/ud2_1.html

 


Comments

Popular posts from this blog